vanban.org

Bản án 15/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 22/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng: khoản 1 Điều 248 Bộ Luật hình sự năm 1999. Điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015. Điểm b, c Khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Luật phí và lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn H phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HSST
Ngày: 22/01/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Vũ Thị Thu Thủy

Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Oanh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2018/TLST-ST ngày 09 tháng 01 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

1.ĐINH VĂN H, sinh năm 1963, ĐKHKTT: Số X, phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Phương S và con bà Phạm Thị T; có vợ Nguyễn Thị L và 1 con. Tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ, tạm giam: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2.Người làm chứng:

2.1. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1993; địa chỉ: xã N, huyện M, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt).

2.2.Anh Lò Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: bản K, xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái. (Vắng mặt).

2.3. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969; địa chỉ: Số Y, phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17h45’ ngày 19/12/2017 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hphát hiện bắt quả tang tại vỉa hè trước cửa nhà số nhà X, phố C, phường T, thành phố H, Đinh Văn H bán số lô, số đề trái phép cho anh Nguyễn Văn Q với số tiền 3.440.000 đồng và anh Lò Văn T với số tiền 2.197.000 đồng, tổng cộng là 5.637.000đ. Cơ quan CSĐT Công an đã thu giữ vật chứng gồm: 01 bút bi vỏ nhựa màu xanh, 01 tờ giấy than, 03 tờ tích kê có ghi các số lô, số đề bằng mực bút bi màu xanh, 03 tờ tích kê có in các số lô, số đề bằng mực giấy than và số tiền 5.570.000 đồng là tiền bị cáo nhận của anh Qvà anh T. Khi bán số đề bị cáo khuyến mại lại cho anh Q 40.000đ, cho anh T 27.000đ tổng là 67.000 đồng. Vật chứng đã được bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố H.

Đối với anh Nguyễn Văn Q và anh Lò Văn T là người mua số lô, số đề của bị cáo Đinh Văn H Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 18/QĐ-KSĐT ngày 07/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố Đinh Văn H về tội “Đánh bạc”, quy định Khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng nội dung cáo trạng và xác định hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

-Về tội danh: tuyên bố bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

-Áp dụng: khoản 1 Điều 248 Bộ Luật hình sự năm 1999. Điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015. Điểm b, c Khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Luật phí và lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

-Hình phạt chính xử phạt: Bị cáo Đinh Văn H từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ

-Vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà Nước số tiền 5.570.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi màu xanh 01 giấy than.

Truy thu của bị cáo H số tiền 67.000 đ sung quỹ Nhà Nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả đã được tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai người làm chứng, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ khác đó được thu thập có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 17h45’ ngày 19/12/2017, tại vỉa hè trước cửa nhà số X, phố C, phường T, thành phố H, Đinh Văn H có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép cho anh Nguyễn Văn Q với số tiền 3.440.000 đồng và anh Lò Văn T với số tiền 2.197.000 đồng tổng cộng là 5.637.000đ thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng và số tiền 5.570.000 đồng, còn thiếu 67.000đ là do bị cáo khuyến mại cho anh Q và anh T.

Hành vi của bi cáo thực hiện nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Việc bán số lô số đề là hình thức đánh bạc được thua bằng tiền không được cơ quan có thẩm quyền cho phép là hành vi trái pháp luật gây mất trật tự trị an xã hội. Khi phạm tội bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999.

Khi quyết định hình phạt Tòa xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, lần đầu phạm tội bán số đề với số tiền trên mức khởi điểm của tội “ Đánh bạc” được coi là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huy chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vật chứng: Xác định số tiền 5.637.000đ là tiền dùng vào việc phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà Nước. Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 5.570.000 đồng còn thiếu 67.000đ do bị cáo khuyến mại cho anh Q và anh T vì vậy truy thu của bị cáo để sung quỹ Nhà Nước. Việc xử lý vật chứng theo quy định điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015. Điểm b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Vì vậy chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố xét xử bị cáo theo tội danh, hình phạt tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 và các điều luật áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng là có căn cứ đúng pháp luật được chấp nhận.

Căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt lần đầu phạm tội có nơi thường trú rõ ràng vì vậy không cần thiết phải cách ly xã hội mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ giáo dục và phòng ngừa nói chung.

Đối với anh Nguyễn Văn Q và anh Lò Văn T là người mua số lô, số đề của Đinh Văn H nhưng do số tiền sử dụng để đánh bạc ( mua số đề) dưới 5.000.000 nên không phải chịu trách nhiệm hình sự, Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo bị tuyên có tội phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí lệ phí Toà án.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo tuyên có tội phải chịu án phí theo qui định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Đánh bạc”

2.Áp dụng: khoản 1 Điều 248 Bộ Luật hình sự năm 1999. Điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015. Điểm b, c Khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Luật phí và lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

3.Hình phạt chính: Phạt tiền bị cáo Đinh Văn H 10.000.000đ ( Mười triệu đồng chẵn) nộp 1 lần sung quỹ Nhà Nước.

4. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi màu xanh 01 giấy than. Tịch thu sung quỹ Nhà Nước số tiền 5.570.000 đồng ( Năm triệu năm trăm bảy mươi ngàn đồng chẵn).

Vật chứng đã được bàn giao theo biên bản bàn giao giữa Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố H.

Truy thu của bị cáo Đinh Văn H số tiền 67.000đ ( Sáu mươi bảy ngàn đồng chẵn) sung quỹ Nhà Nước.

6.Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ ( Hai trăm ngàn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ