- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Nông Văn B buôn bán hàng cấm (pháo nổ) - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hứa Hồng Hải phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 190 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2018/HS-ST Ngày: 07-11-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thái Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Dương Đình Quỳnh;
Ông: Ông Hấu Phúc Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Sinh Hà - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Đinh Hiệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Nông Văn B, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1984 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn R, sinh năm 1953; Con bà Mông Thị L, sinh năm 1950; Có vợ là Nông Thị E, sinh năm 1990 và 01 con, sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giữ tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Bắc Kạn từ ngày 09/4/2018 đến ngày 17/4/2018. Từ ngày 26/6/2018 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.Bị cáo mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn B: Ông Sầm Đức Tùng - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn, chi nhánh Ngân Sơn. Có mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đếm vụ án: Anh Nông Văn H, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nông Văn V, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 10 phút ngày 08/4/2018, tại Km 222+800 QL3 thuộc thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác của phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Ngân Sơn đang làm nhiệm vụ thì phát hiện và bắt quả tang Nông Văn B, sinh năm 1984, trú tại thôn thôn A, xã B,, huyện C, tỉnh Cao Bằng đang điều khiển xe mô tô màu đen nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 11R1-1106 có hành vi vận chuyển trái phép pháo nổ. Tang vật thu giữ gồm: 01 thùng cát tông hình chữ nhật, bên trong có chứa 12 bánh pháo hình tròn màu đỏ, đường kính 25 cm, độ dày 06 cm; 06 bánh pháo hình hộp chữ nhật màu đỏ, kích thước 04 cm x 04 cm x 38 cm. Qua cân tịnh có tổng trọng lượng 16 kg; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen, biển kiểm soát 11R1-1106 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màn hình cảm ứng màu vàng nhạt đã qua sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra Nông Văn B khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 07/4/2018, Nông Văn B điều khiển xe mô tô có biển kiểm soát 11R1-1106 của em trai ruột là Nông Văn H đến khu vực biên giới thuộc thôn thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Cao Bằng để mua pháo nổ với một người đàn ông không quen biết (người này là dân Trung Quốc). Khi đến gần cột mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc, B đã thấy một người đàn ông Trung Quốc lạ mặt đặt 02 thùng pháo đặt tại địa phận lãnh thổ Việt Nam. Khi thấy B đến thì người đàn ông trên bê 02 thùng pháo đến chỗ xe mô tô và đưa cho B 01 thùng bên trong có 12 bánh pháo nổ hình tròn và 06 bánh pháo nổ hình chữ nhật, sau đó B đưa cho người đàn ông đó 300 đồng nhân dân tệ (Tiền Trung Quốc) tương đương khoảng 1.000.000 đồng (Tiền Việt Nam). Mua được pháo xong B chở về cất giấu tại bụi cây cách nhà B khoảng 500m. Đến khoảng 18 giờ ngày 08/4/2018, B đi xe mô tô đến chỗ giấu lấy pháo lấy rồi vận chuyển đến huyện C, tỉnh Bắc Kạn để bán cho một người đàn ông tên S do đã có giao hẹn trước (B không biết rõ họ, tên và địa chỉ cụ thể của S). Khi B đang vận chuyển pháo nổ bằng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen biển kiểm soát 11R1-1106 đi đến Km 222+800 Quốc lộ 3 thuộc thôn thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật.
Ngoài ra Nông Văn B còn khai nhận: Cũng tại thời điểm B mua pháo nổ với người đàn ông Trung Quốc nói trên thì còn có Nông Văn V, sinh năm 1993, trú tại thôn A, xã B, huyện C, tỉnh D (là em trai con chú của B) cũng đi 01 xe mô tô đến để mua pháo nổ với người đàn ông Trung Quốc nói trên. V mua 01 thùng và đưa cho người đàn ông đó 300 đồng nhân dân tệ (Tiền Trung Quốc) tương đương khoảng 1.000.000 đồng (Tiền Việt Nam), sau đó đem cất giấu. Đến khoảng 18 giờ ngày 08/4/2018, V cũng vận chuyển đến huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn với mục đích để bán cho người đàn ông tên S nhưng sau đó đã bị Cơ quan Công an bắt giữ.
Cơ quan chức năng đã tiến hành trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 2088/C54-P2 ngày 18/4/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Các mẫu vật gửi giám định đều là pháo nổ. Khối lượng pháo của Nông Văn B là 16 kg”.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSNS ngày 26 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Nông Văn B về tội: “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về hình phạt chính: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng, màu vàng nhạt, có màn hình cảm ứng đã bị bong cạnh viền, IMEL1: 353298087406925/01; IMEL2: 353299087406923/01, SN:R58HC2XTTYT thu giữ của Nông Văn B; tịch thu tiêu hủy 11 tràng pháo nổ hình tròn và 05 tràng pháo hình hộp chữ nhật đã được niêm phong trong 01 thùng cát tông có tổng trọng lượng là 14,41 kilôgam là mẫu vật hoàn trả sau giám định.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo có bản bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) cho bị cáo, và các tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội có bố đẻ là người có công với cách mạng, bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; sinh sốn ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khănvì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) cho bị cáo, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồi 23 giờ 10 phút ngày 08/4/2018, bị cáo Nông Văn B đã thực hiện hành vi vận chuyển pháo nổ từ thôn thôn A, xã B, huyện C, tỉnh D về huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn với mục đích để bán kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn chứng minh bằng các chứng cứ sau:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 16, 17); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu (bút lục số 62); Kết luận giám định của Viện khoa học hình sự thuộc Tổng cục cảnh sát Bộ Công an (bút lục số 41).
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước đối với hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh, lưu hành. Việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn quyết định truy tố bị cáo Nông Văn B trước Tòa án để xét xử về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Điều luật có nội dung:
““1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) ... buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”.
Về nội dung bào chữa của người bào chữa, Hội đồng xét xử thấy rằng người bào chữa cho bị cáo đã đưa ra được các chứng cứ chứng minh các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và những lời bào chữa nêu trên là có căn cứ và cần được chấp nhận.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, khai báo trung thực về hành vi phạm tội của mình và các tình tiết có liên quan đến vụ án; bị cáo đã tỏ ra ăn năn hối cải, nhận thức sâu sắc về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo còn có bố đẻ là ông Nông Văn R, sinh năm 1953 là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba, bản thân sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹtheo quy định tại đoạn 1, 2 khoản 1 + khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt đối với bị cáo: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần này là lần đầu, trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không có vi phạm pháp luật khác, bản thân thực hiện tốt các quy định nơi cư trú, có nơi cơ trú ổn định, rõ ràng, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn vì vậy xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù ngay, mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú trong thời gian thử thách, qua đó cũng đủ điều kiện để cho bị cáo có cơ hội trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và cộng đồng, đồng thời thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên qua xem xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, do vậy không xem xét áp dụng.
Về xử lý vật chứng trong vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng, màu vàng nhạt, có màn hình cảm ứng đã bị bong cạnh viền, IMEI1: 353298087406925; IMEI2: 353299087406923, SN:R58HC2XTTYT, pin bị phồng, vỡ màn hình thu giữ của Nông Văn B, xét thấy Nông Văn B đã sử dụng chiếc điện thoại di động trên để liên lạc mua bán pháo nổ nên cần tịch thu, hóa giá sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 11 tràng pháo nổ hình tròn và 05 tràng pháo hình hộp chữ nhật đã được niêm phong trong 01 thùng cát tông có tổng trọng lượng là 14,41 kilôgam là mẫu vật hoàn trả sau giám định hiện đang được tạm gửi tại kho của Công ty cổ phần Hồng Hà thuộc thôn B, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Xét vật chứng là hàng cấm nên tịch thu giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Kạn xử lý theo thẩm quyền.
Trong vụ án còn có một số vấn đề liên quan như: Đối với người đàn ông đã bán pháo nổ cho Nông Văn V nhưng là người Trung Quốc, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn không có thẩm quyền và căn cứ để xem xét điều tra, xử lý.
Đối với anh Nông Văn H là người đã cho Nông Văn B mượn xe mô tô biển kiểm soát 11R1-1106 sử dụng vào việc vận chuyển pháo nổ. Tuy nhiên anh H không biết Nông Văn B mượn xe để buôn bán hàng cấm nên không đặt vấn đề xử lý.
Đối với Nông Văn V là người biết và cùng thời điểm đi mua pháo nổ với Nông Văn B. Tuy nhiên, qua điều tra xác định hành vi mua bán, vận chuyển pháo nổ của Nông Văn Vinh là riêng lẻ, độc lập và không liên quan đến hành vi của Nông Văn B. Hành vi mua bán, vận chuyển pháo nổ của Nông Văn V đã bị khởi tố, điều tra trong một vụ án khác.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 106, Điều 136, Điều 331 và 333của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố bị cáo Nông Văn B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nông Văn B 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi)tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng
2.1. Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng, màu vàng nhạt, có màn hình cảm ứng đã bị bong cạnh viền, pin bị phồng, vỡ màn hình IMEI1: 353298087406925; IMEI2: 353299087406923, SN:R58HC2XTTYT thu giữ của Nông Văn B;
2.2. Tịch thu tiêu hủy 11 tràng pháo nổ hình tròn và 05 tràng pháo hình hộp chữ nhật đã được niêm phong trong 01 thùng cát tông có tổng trọng lượng là 14,41 kilôgam là mẫu vật hoàn trả sau giám định hiện đang được tạm gửi tại kho của Công ty cổ phần Hồng Hà thuộc thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2018 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn).
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn B.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáocó quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Đình Quỳnh Hấu Phúc Hƣng
Nguyễn Thái Công Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh;
- VKSND huyện;
- Công an huyện Ngân Sơn;
- Trại tạm giam Công an tỉnh;
- Chi cục THADS huyện;
- Sở Tư pháp;
- UBND xã Thị Hoa;
- Bị cáo;
Nguyễn Thái Công
- Lưu. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TA tỉnh;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện;
- VKSND tỉnh;
- CA huyện;
- Trại tạm giam CA tỉnh;
- Chi cục THADS huyện;
- Sở Tư pháp;
- UBND xã Thị Hoa;
- Bị cáo; Người liên quan;
Nguyễn Thái Công
- Lưu.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN NGÂN SƠN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẮC KẠN Bản án số: /2018/HS-ST Ngày: 07-11-2018
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thái Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông (Bà) ...
Ông (Bà) ...
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Sinh Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày ... tháng ... năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: .../2018/QĐXXST-HS ngày ... tháng ... năm 2018 đối với bị cáo:
Hứa Hồng Hải, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1968 tại huyện tỉnh Bắc Kạn.
Nơi cư trú: Tiểu khu 2, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 10/10; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hứa Văn Lệnh, sinh năm 1941; Con bà Nông Thị Dung (đã chết); Có vợ là Phạm Thị Hường, sinh năm 1975 và 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn từ ngày 09/5/2018 đến ngày 11/7/2018. Hiện nay đang áp dụng biện pháp ngăn chặn là bảo lĩnh.Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
- Người bào chữa cho bị cáo Hứa Hồng Hải: Ông Sầm Đức Tùng - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn, chi nhánh Ngân Sơn. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Hường, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Tiểu khu 2, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 10 phút ngày 08/5/2018, tại khu vực đường đất khu lâm trường thuộc Tiểu Khu 3, TT. Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Tổ công tác điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Ngân Sơn đanh làm nhiệm vụ thì phát hiện, bắt quả tang Hứa Hồng Hải, sinh năm 1968, trú tại Tiểu Khu 2, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tang vật thu giữ gồm: 12 (Mười hai) gói nhỏ ma túy (Hêrôin) rơi vãi xung quanh vị trí Hứa Hồng Hải đang đứng có trọng lượng 6,120 gam (Sáu phẩy một hai mươi gam); 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen BKS 97F8 - 9101; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, có ốp lưng không màu bên trong có gắn 02 thẻ sim số 0969.413.648, 0969.747.348; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có phím bấm, màu ghi bên trong có gắn thẻ sim số 0945.044.985; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màn hình cảm ứng đã bị vỡ, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng nhạt, có ốp lưng màu đen bên trong có gắn thẻ sim số 0961.223.316; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft màn hình cảm ứng đã bị vỡ, mặt trước màu đen, mặt sau màu trắng đã qua sử dụng, bên trong không gắn thẻ sim và số tiền 8.630.000đ (Tám triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) tiền do ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Hứa Hồng Hải. Qua khám xét Hứa Hồng Hải đã tự nguyện giao nộp 09 (Chín) gói nhỏ ma túy (Hêrôin) có trọng lượng 2,130 gam (Hai phẩy một ba mươi gam) mà Hải đang cất giấu tại mép vòm cổng hoa trang trí đám cưới tại khu vực tầng âm nhà ở của Hải thuộc Tiểu Khu 2, TT. Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
Toàn bộ 12 (Mười hai) gói nhỏ ma túy thu giữ khi bắt quả tang và 09 (Chín) gói nhỏ ma túy thu giữ khi khám xét nhà Hứa Hồng Hải, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn đã tiến hành niêm phong trong 02 phong bì ký hiệu T1, T2. Sau khi cân tịnh khối lượng ma túy và thử phản ứng phát hiện chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn đã tiến hành niêm phong toàn bộ số ma túy lại trong 02 phong bì ký hiệu V1, V3 để gửi trưng cầu giám định theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra Hứa Hồng Hải khai nhận: 12 (Mười hai) gói nhỏ ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang và 09 (Chín) gói nhỏ ma túy Hải tự nguyện giao nộp khi khám xét là Hêrôin do Hải mua về để sử dụng cá nhân. Cụ thể, vào khoảng 10 giờ ngày 07/5/2018, Hải bắt xe khách từ khu vực đường Quốc Lộ 3 rẽ vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn (Do lúc này Hải đang điều trị bệnh lao phổi tại Khoa Lao Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn) xuống khu vực bến xe khách mới Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy về sử dụng. Khi xuống đến khu vực bến xe khách Thái Nguyên thì Hải mua ma túy với 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi (Không rõ tên tuổi, địa chỉ) với số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) được 25 (Hai mươi năm) gói nhỏ ma túy (Hêrôin). Sau khi mua được ma túy thì Hải cất giấu số ma túy trên vào người và bắt xe khách quay lại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn. Sau đó Hải đã sử dụng 04 (Bốn) gói nhỏ ma túy tại khu vực đồi gần Bệnh viện. Đến khoảng 15 giờ ngày 08/5/2018, Hải bắt xe khách từ khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn để về nhà và mang theo 21 (Hai mươi mốt) gói nhỏ ma túy còn lại, khi về đến nhà ở của mình ở Tiểu Khu 2, TT. Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn thì Hải cất giấu 09 (Chín) gói nhỏ ma túy vào phía sau bông hoa lụa màu trắng - đỏ gắn trên cổng trang trí đám cưới để tại tầng âm của nhà Hải, còn 12 (Mười hai) gói nhỏ ma túy còn lại Hải cho vào túi quần đằng trước bên trái Hải đang mặc trên người và đi xe máy ra khu vực chăn nuôi của gia đình ở Tiểu Khu 3, TT. Nà Phặc, huyện Ngân Sơn. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi Hải đang đi xe máy từ khu vực chăn nuôi của gia đình về nhà thì bị Cơ quan Công an huyện Ngân Sơn phát hiện, bắt quả tang. Do lo sợ nên Hải đã cho tay vào túi quần đằng trước bên trái cầm12 (Mười hai) gói nhỏ ma túy trên ra và thả xuống khu vực chân trái Hải đang đứng thì bị thu giữ toàn bộ tang vật. Sau đó khi Cơ quan Công an khám xét nhà ở thì bản thân Hải đã tự nguyện lấy và giao nộp 09 (Chín) gói nhỏ ma túy mà Hải cất giấu trước đó tại phía sau bông hoa lụa màu trắng - đỏ gắn trên cổng trang trí đám cưới để tại tầng âm của nhà Hải.
Ngoài ra trước đó Hải còn được đi xe khách từ nhà xuống khu vực bến xe khách mới Thái Nguyên mua với người đàn ông trên 20 (Hai mươi) gói nhỏ ma túy (Hêrôin) với số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), thời gian cách ngày Hải bị bắt khoảng hơn 10 ngày. Sau khi mua về Hải đã sử dụng hết. BL 58-120
Cơ quan chức năng đã tiến hành trưng cầu giám định chất ma túy. Tại Bản kết luận giám định số 53/PC54-MT ngày 15/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu V1 gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng là 6,120 g (sáu phẩy một hai không gam); Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu V3 gửi giám định là ma túy, loại Hêroin, có khối lượng là 2,130 g (Hai phẩy một ba mươi gam).
Tại bản cáo trạng số Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hứa Hồng Hải về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 249/BLHS 2015 với mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a...
g) Heroine … có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam…”.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị tuyên xử bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là “Phạt tiền” quy định tại Khoản 5 Điều 249.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hồi 19 giờ 10 phút ngày 08/5/2018, Hứa Hồng Hải (sinh năm 1968, trú tại tiểu khu 2, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã có hành vi tàng trữ 12 gói nhỏ ma túy (Heroine). Hành vi của Hứa Hồng Hài bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn phát hiện tại khu vực đường đất của khu lâm trường thuộc tiểu khu 3, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở, Hứa Hồng Hải tự nguyện giao nộp 09 gói nhỏ ma túy (Heroine) đang cất giấu tại nhà. Tổng khối lượng ma túy mà Hứa Hồng Hải tàng trữ trái phép là 08,25 gam với mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn chứng minh bằng các chứng cứ sau:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục số 18, 19); Biên bản niêm phong vật chứng (Bút lục số 20, 32); Biên bản khám nghiệm hiện trường (Bút lục số 21); Biên bản thử phản ứng phát hiện chất ma túy (Bút lục số 36); Kết luận giám định (Bút lục số 41, 42).
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân sơn ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn quyết định truy tố bị cáo Hứa Hồng Hải trước Tòa án để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 249/BLHS là đúng quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 249/BLHS. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải chịu một hình phạt nhất định tại trại giam nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừachung. Tuy nhiên xét thấy bản thân bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra vụ án bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi vi phạm pháp luật của mình. Bị cáo có bố đẻ là ông Hứa Văn Lệnh là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và ông nội là Hứa Văn Dẩu được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Ngoài ra bị cáo bị mắc bệnh lao phổi bội nhiễm phải điều trị lâu dài nên khi lượng hình được xem xét.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo mắc bệnh lao phổi phải điều trị lâu dài, kinh tế gia đình phụ thuộc vào vợ do đó không xem xét áp dụng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52/BLHS.
Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS là “Người phạm tội thành khẩn khai báo”. Ngoài ra, bị cáo có ông nội là ông Hứa Văn Dẩu và bố đẻ là ông Hứa Văn Lệnh là người có công, được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến hạng nhì và hạng ba nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51/BLHS.
Trong vụ án này còn có người đàn ông khoảng 30 tuổi mà theo lời khai của bị cáo Hứa Hồng Hải là người đã bán ma túy (Heroine) cho Hải tại khu vực bến xe khách Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
Xử lý vật chứng trong vụ án:
Nhất trí với quyết định của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu đỏ đen, có giá đèo hàng đằng sau, biển kiểm soát 97F8-9101 và số tiền 8.630.000đ (Tám triệu, sáu trăm ba mươi nghìn đồng) đã thu, tạm giữ của bị cáo. Qua quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T53, bên trong có chứa 8,19 gam ma túy (Heroine) và toàn bộ ni lông, giấy gói cũ trong phong bì niêm phong ký hiệu V2 và V4 thu giữ của Hứa Hồng Hải.
- Trả lại cho bị cáo Hứa Hồng Hải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, ốp lưng màu nâu nhạt có gắn 02 thẻ sim số 0969.413.648 và 0969.747.348; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia model 1200 màu ghi, có phím bấm có gắn thẻ sim số 0945.044.985; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng đã bị vỡ, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng nhạt, ốp lưng đen có gắn thẻ sim số 0961.223.316; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft model RM 1141, màn hình cảm ứng đã bị vỡ, mặt trước màu đen, mặt sau màu trắng không có gắn thẻ sim. Tất cả số điện thoại di động trên đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hứa Hồng Hải.
(Số lượng, tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/9/2018 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm g Khoản 2 Điều 249/BLHS năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; 47/BLHS; Điều 106, Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1.Tuyên bố bị cáo Hứa Hồng Hải phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hứa Hồng Hải 05 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 09/5/2018 đến ngày 11/7/2018.
2. Về xử lý vật chứng trong vụ án:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T53, bên trong có chứa 8,19 gam ma túy (Heroine) và toàn bộ ni lông, giấy gói cũ trong phong bì niêm phong ký hiệu V2 và V4 thu giữ của Hứa Hồng Hải.
- Trả lại cho bị cáo Hứa Hồng Hải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, màu trắng bạc, ốp lưng màu nâu nhạt có gắn 02 thẻ sim số 0969.413.648 và 0969.747.348; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia model 1200 màu ghi, có phím bấm có gắn thẻ sim số 0945.044.985; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng đã bị vỡ, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng nhạt, ốp lưng đen có gắn thẻ sim số 0961.223.316; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Microsoft model RM 1141, màn hình cảm ứng đã bị vỡ, mặt trước màu đen, mặt sau màu trắng không có gắn thẻ sim. Tất cả số điện thoại di động trên đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Hứa Hồng Hải.
3. Về án phí:Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TA tỉnh; - VKSND huyện; - VKSND tỉnh; - CA huyện; - Trại tạm giam CA tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thái Công |