vanban.org

Bản án 15/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 26/03/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 69/2017/HS-ST Tuyên án 29/12/2017
Phúc thẩm — đang xem Bản án 15/2018/HSPT Tuyên án 26/03/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - " Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2018/HSPT
Ngày 26/3/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hà Nam

Các Thẩm phán:

Bà Vũ Thị Mai Hương

Ông Phạm Tiến Dũng

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 11/2018/TLPT-HS ngày 05 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2017/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Bị cáo có kháng cáo.

1. Trần Văn T, sinh năm 1975; nơi cư trú: Xóm 11, xã Tr, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Làm ruộng; Tr độ văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N, sinh năm 1933 và bà Vũ Thị M, sinh năm 1935; bị cáo chưa có vợ; tiền án: không; tiền sự: Ngày 20-01-2017, bị Công an xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; bị tạm giữ từ ngày 04-10-2017 đến ngày 13-10-2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”.(bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Các bị cáo không kháng cáo: Nguyễn Văn H, Trần Văn Đ, Phạm Văn Tr, Đoàn Văn Q. (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ, ngày 04-10-2017, Trần Văn T đến Nhà văn hóa xã Hải Trung, huyện Hải Hậu xem hội trại trung thu thì gặp Nguyễn Văn H, Trần Văn Đ và Đoàn Văn Q. T nói với H, Đ, Q đánh bạc ăn tiền thì mọi người đồng ý. Đến 9 giờ cùng ngày, T, Đ, Q cùng đến nhà H, sau đó Đ đi mua bộ bài tú lơ khơ 52 Q, T lấy chiếc chiếu trên giường trải xuống nền nhà phía Tây nhà H đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh lốc. Cả nhóm thống nhất mức sát phạt 5.000đ một lá, tức là sau mỗi ván , đếm số lá bài còn lại trên tay mỗi người sẽ nhân với 5.000đ và đưa tiền cho người về nhất được hưởng hoặc người nào báo lốc (tròn bài) thì mỗi người phải đưa 100.000đ cho người báo lốc được hưởng, chơi được khoảng 20 phút thì Phạm Văn Tr đến và cùng tham gia đánh bạc. Đến 10 giờ 45 phút cùng ngày khi T, H, Đ, Tr, Q đang sát phạt nhau thì bị Công an huyện Hải Hậu phối hợp với Công an xã Hải Trung phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 7.025.000đ, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 Q và thu giữ của Đoàn Văn Q số tiền 910.000 đồng dùng để đánh bạc.

Các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Trần Văn Đ, Phạm Văn Tr và Đoàn Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Từ nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 69/2017/HSST ngày 29/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã quyết định:

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn Đ, Nguyễn Văn H, Phạm Văn Tr và Đoàn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Trần Văn T. Xử phạt Trần Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 04-10-2017 đến ngày 13-10-2017).

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Trần Văn Đ. Xử phạt Trần Văn Đ 3 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04-10-2017.

- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Nguyễn Văn H. Xử phạt Nguyễn Văn H 9 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 04-10-2017 đến ngày 13-10-2017). Phạt bổ sung 3.000.000đ (ba triệu đồng).

Giao bị cáo cho UBND xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 31 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn Tr. Xử phạt Phạm Văn Tr 15 (mười lăm) tháng, cải tạo không giam giữ được khấu trừ 9 ngày tạm giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 tháng 3 ngày; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Phạt bổ sung 3.000.000đ (ba triệu đồng).

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Đoàn Văn Q. Xử phạt Đoàn Văn Q 12 (mười hai) tháng, cải tạo không giam giữ được khấu trừ 9 ngày tạm giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 3 ngày; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao các bị cáo Phạm Văn Tr, Đoàn Văn Q cho UBND xã Hải Trung giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Tr và Q.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của phápluật.

Ngày 03/01/2018 bị cáo Trần Văn T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt.

Ngày 05/01/2018 bị cáo Trần Văn T làm đơn kháng cáo bổ sung cho rằng trong bản án sơ thẩm xác định bị cáo là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác tham gia đánh bạc, do vậy bị cáo là người giữ vai trò thứ nhất trong vụ án, từ đó buộc bị cáo phải chịu một hình phạt quá nặng nề là không khách quan, do vậy yêu cầu cấp phúc thẩm tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và xét xử lại theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành.

Tại phiên toà: Bị cáo Trần Văn T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, tham gia phiên tòa đã kết luận về vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được cơ quan điều tra thu thập và qua quá Tr xét hỏi tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, xét thấy Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS là đúng người, đúng tội, không oan.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt của bị cáo Trần Văn T , Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Văn Đ, Đoàn Văn Q cũng như lời khai của chính bản thân bị cáo T cho thấy vào tối ngày 04/10/2017 khi gặp các bị cáo H, Đ, Q ở sân UBND xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, bị cáo T có bảo mọi người “Lâu rồi không có chương Tr gì à” (tức là lâu không ngồi chơi bài ăn tiền), sau đó H rủ cả bọn về nhà H để chơi bài, tại nhà H bị cáo T chủ động lấy chiếc chiếu trên giường trải xuống đất để mọi người ngồi chơi bài, còn Đ đi mua bài. Như vậy vai trò của các bị cáo T, H, Đ trong vụ án này là ngang nhau; cấp sơ thẩm xác định bị cáo T là người có vai trò thứ nhất và xử phạt bị cáo 12 tháng tù giam, trong khi đó xử phạt bị cáo Đ chỉ có 03 tháng tù, bị cáo H 09 tháng tù là chưa thỏa đáng, chưa Đ bảo nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đối với từng bị cáo trong vụ án này. Vì vậy cần chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo T để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận cho nên bị cáo Trần Văn T không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

QUYẾT ĐỊNH

Sửa bản án sơ thẩm

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999: Xử phạt Trần Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 04-10-2017 đến ngày 13-10-2017). Về tội ”Đánh bạc”.

2. Về án phí: Bị cáo không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các khoản khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ