- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Bạch Đằng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Ngô Bạch Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Bạch Đ 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2018/HS-ST Ngày 09-02-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Khưu Liên Dung
Bà Dư Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Như - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Ngô Bạch Đ, sinh năm 1984 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp thị trấn A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Hoàng M và bà Dương Ngọc Đ; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 21/12/2015, Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2017 (chưa được xóa án tích); nhân thân:
+ Ngày 15/01/2002 Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định số 04/QĐ-UB về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng do có hành vi nhiều lần đánh người, gây rối trật tự công cộng, đã chấp hành xong ngày 21/11/2003;
+ Ngày 17/9/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đạt tài sản” và 03 năm 06 tháng tù về tội “giao cấu với trẻ em”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 28/8/2008 (đã xóa án tích);
+ Ngày 01/12/2013 Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 116/QĐ-UB áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trên và được chính quyền địa phương giáo dục nhưng không khắc phục sửa chữa mà tiếp tục vi phạm, đã chấp hành xong ngày 23/12/2014;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2017 đến 06/11/2017 khởi tố bị can và tạm giam cho đến nay, (có mặt).
- Bị hại: Bà Lê Thị Kim N, sinh năm 1970. Trú tại: Số nhà C, đường 2, khóm T, phường 8, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản cáo trạng số 07/KSĐT-SH ngày 10/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Ngô Bạch Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự do mặc dù có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích nhưng vào khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 03/11/2017, Ngô Bạch Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69-F3 1785 từ hướng huyện Hòa Bình lên thành phố B lấy thuốc uống tại Cơ sở cai nghiện ma túy. Trên đường đi do lên cơn nghiện, Đằng nảy sinh ý định tìm tài sản của người khác để lấy trộm, đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Đằng điều khiển xe đến trước cửa nhà của bà Lê Thị Kim N ở số C, đường 2 khóm T, phường 8, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, thấy nhà khóa cửa xung quanh không thấy người Đ khoét vách bên hông nhà để vào nhà tìm tài sản lấy trộm. Khi nhìn thấy trên xe ép nước mía có 01 cái mô tơ điện Đ dùng 01 cây cờ lê số 10 và 01 cây kèm bằng kim loại để gần xe nước mía để mở ốc vít để lấy mô tơ điện. Khi mở được 02 ốc vít thì bị người dân phát hiện truy hô, Đ bỏ chạy thì bị người dân bắt giữ. Theo kết luận của Hội đồng định giá xác định môtơ điện tỷ lệ còn lại 60%, có giá 1.038.000 đồng.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Ngô Bạch Đ về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g và p khoản 1 Điều 46; Điều 18, khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Xử phạt bị cáo Ngô Bạch Đ từ 06 tháng 09 tháng tù.
Bị cáo Ngô Bạch Đ thừa nhận trên đường đi nhận thuốc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy, do lên cơn nghiện bị cáo nảy sinh ý định tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Khi thấy ngôi nhà khóa cửa, xung quanh không có người Đ đã vòng qua bên hông nhà dùng tay khoét vách thiếc lén lút đột nhập vào nhà của bà Lê Thị Kim N để chiếm đoạt tài sản. Khi thấy chiếc mô tơ điện nằm trên xe nước mía bị cáo đã dùng cờ lê và kiềm để mở ốc vít mục đích chiếm đoạt chiếc mô tơ điện nhưng bị người dân phát hiện bắt giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Bạc Liêu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Bạch Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại Lê Thị Kim N vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy bà N đã có lời khai ở cơ quan điều tra và các chứng cứ vụ án đã rõ ràng, đầy đủ, sự vắng mặt của bà N không trở ngại gì cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Ngô Bạch Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại Lê Thị Kim N, người làm chứng Lê Ngọc T, Lê Thanh H, Nguyễn Văn T cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 9 giờ ngày 03/11/2017 tại nhà số C đường 2, khóm T, phường 8, thành phố B, bị cáo Ngô Bạch Đ đã có hành vi lợi dụng nhà của bà Lê Thị Kim N đóng cửa không người trông giữ đã lén lút khoét vách bên hông nhà để đột nhập vào nhà bà N lấy trộm 01 cái mô tơ điện để trên xe nước mía, trong quá trình tháo ốc vít để lấy chiếc mô tơ điện thì bị người dân phát hiện truy hô và bắt giữ nên hậu quả đến cùng chưa xảy ra là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Theo bản kết luận định giá tài sản số 140/KL-HĐĐGTS ngày 09/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Mô tơ điện nhãn hiệu TECO, 0.5 Hp, màu đen, tỷ lệ còn lại thực tế là 60%, với giá là 1.038.000 đồng.
Vào ngày 21/12/2015 bị cáo Ngô Bạch Đ đã bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 01 năm 06 tháng tù về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản” đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2017 nhưng chưa được xóa án tích.
Bị cáo Ngô Bạch Đ thực hiện hành vi nêu trên trong trạng thái đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; khi thực hiện hành vi bị cáo biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, mặc dù tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên hành vi nêu trên của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Do vậy, cáo trạng số 07/KSĐT-SH ngày 10/01/2018 của Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bà N mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy không nghề nghiệp, có nhân thân xấu nhiều lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn tiếp tục phạm tội thể hiện sự xem thường pháp luật. Vì vậy, cần xử lý nghiêm bị cáo để không chỉ có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo mà mang tính phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản gây thiệt hại không lớn; do người dân sớm phát hiện nên bị cáo không thực hiện hành vi được đến cùng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46, Điều 18, khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã giao trả xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đen và giấy đăng ký xe mô tô 69F3-1785 cho ông Ngô Hoàng M do ông M không biết bị cáo sử dụng xe thực hiện hành vi phạm tội; giao trả ví da màu đen, giấy phép lái xe hạng A1 và thẻ điều trị bệnh, 01 thanh kim loại hình trụ tròn dài 23cm, cây cù điếu bằng kim loại hình chữ L cho bị cáo Đ do không có liên quan đến vụ án; giao trả 01 môtơ điện nhãn hiệu TECO, 0.5Hp màu đen, 01 cây kéo 01 cây búa thầu, 01 cây kiềm, 01 cây đục; 01 cây cờ lê số 10 cho bị hại Lê Thị Kim N là phù hợp, không thu giữ vật chứng gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46, Điều 18; khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009;
2. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Ngô Bạch Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Bạch Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/11/2017.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Ngô Bạch Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKS ND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND Tp. B; - Cơ quan CSĐT Công an Tp. B; - THA hình sự; - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. B; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Quỳnh |