vanban.org

Bản án 15/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 23/02/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại để thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ SÊ
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2017/HSST
Ngày: 23/02/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Viết Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Thảo, Phó Bí thư đảng ủy xã Al Bá, huyện Chư Sê.

2. Bà Nay H’Chiêm, Cán bộ trung tâm y tế huyện Chư Sê.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Thị Yến, cán bộ Toà án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Băng, Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 02 năm 2017 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2017/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2017 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN B, sinh năm 1995, tại Chư Sê, tỉnh Gia Lai; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn 1, xã H, huyện S, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: 8/12; con ông (không xác định) và bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1970; Tiền sự, tiền án: không; Bị cáo đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

1. Chị Cao Thị H, sinh năm 1985

Trú tại: làng S, xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

2. Trần Xuân B, sinh năm 1990

Trú tại: thôn N, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1962.

Trú tại: Thôn L, xã H, huyện P, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).

2. Chị Lê Thị H, sinh năm 1997

Trú tại: Thôn P, xã G, huyện S, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

3. Anh Cao Văn C, sinh năm 1992

Trú tại: Thôn 1, xã H, huyện S, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Văn B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 18 giờ ngày 23/12/2016, Công an xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai, đã triệu tập Nguyễn Văn B (sinh năm: 1995, trú Thôn 1, xã H, huyện S, tỉnh Gia Lai) lên làm việc. Tại đây, Nguyễn Văn B khai nhận từ ngày 03/12/2016 đến ngày 22/12/2016, đã thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản ở làng K, xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai như sau: Vào lúc 11 giờ ngày 03/12/2016, Nguyễn Văn B (đang làm thợ xây, xây dựng trường học tại làng S, xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai) điều khiển xe mô tô Hon da Dream, biển kiểm soát 77H3 – 9179 (xe mô tô của anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1962, hộ khẩu thường trú: thôn L, xã H, huyện P, tỉnh Bình Định, là tổ trưởng tổ thi công xây dựng trường học tại làng S, xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai) đến tiệm cắt tóc của chị Cao Thị H (sinh năm: 1985, trú tại làng S, xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai) để cắt tóc. Khi đi vào tiệm cắt tóc, Nguyễn Văn B nhìn thấy chị Cao Thị H đang ở sau nhà, không có ai trông coi tiệm cắt tóc, trên ghế cắt tóc có chiếc điện thoại di động Nokia Lumia 925. Lúc này, Nguyễn Văn B đã trộm cắp chiếc điện thoại đi động Nokia Lumia 925, bỏ vào túi quần của mình, sau đó ngồi đợi chị Cao Thị H cắt tóc. Sau khi cắt tóc xong, Nguyễn Văn B mang chiếc điện thoại di động Nokia Lumia 925 trộm cắp được đưa cho bạn gái là chị Lê Thị H (sinh năm: 1997, trú tại Thôn P, xã G, huyện S, tỉnh Gia Lai) sử dụng.

Đến 22 giờ ngày 22/12/2016, Nguyễn Văn B đang ở công trình xây dựng trường học tại làng S, xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai, thì phát hiện thấy không có ai trông coi, chỗ ngủ của anh Trần Xuân B (sinh năm: 1990, trú tại Thôn N, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai, là bảo vệ công trình) có chiếc điện thoại di động Iphone 4S và cục Pin sạc dự phòng hiệu MI. Lúc này, Nguyễn Văn B đã trộm cắp chiếc điện thoại di động Iphone 4S và cục Pin sạc dự phòng hiệu MI, sau đó xin đi nhờ xe mô tô của người không rõ tên, địa chỉ cụ thể về nhà ở thôn 1, xã I, huyện S, tỉnh Gia Lai. Đến 10 giờ ngày 23/12/2016, Nguyễn Văn B mang chiếc điện thoại di động Iphone 4S đến tiệm điện thoại di động của anh Cao Văn C (sinh năm: 1992, trú tại thôn 1, xã H, huyện S, tỉnh Gia Lai) để mở mật khẩu nhưng không được. Sau đó, Nguyễn Văn B mang chiếc điện thoại di động Iphone 4S và cục Pin sạc dự phòng hiệu MI về nhà cất giấu trong tủ. Sau khi bị phát hiện, Nguyễn Văn B đã giao nộp toàn bộ vật chứng của vụ án cho Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

Ngày 27/12/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản số: 21/QĐ, về việc trưng cầu định giá đối với những tài sản trên.

Ngày 28/12/2016, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai kết luận:

+ Chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia Lumia 925 (đã qua sử dụng) trị giá 3.000.000 đồng.

+ Chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 4S (đã qua sử dụng), trị giá 2.150.000 đồng.

+ Cục sạc Pin dự phòng, nhãn hiệu MI (đã qua sử dụng), trị giá 150.000 đồng.

Vậy, tổng giá trị của tài sản trộm cắp được là 5.300.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; đề nghị HĐXX: Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn B từ 12 đến 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về vật chứng vụ án và về phần dân sự: Miễn xét; Về phần án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Tại phiên toà hôm nay, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn B được xác định như sau:

Vào lúc 11 giờ ngày 03/12/2016, Nguyễn Văn B đã lén lút trộm cắp được chiếc điện thoại di động Nokia Lumia 925 trị giá 3.000.000 đồng của chị Cao Thị H ở làng S, xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai, sau đó đưa cho chị Lê Thị H sử dụng. Vào lúc 22 giờ ngày 22/12/2016, Nguyễn Văn B đã lén lút trộm cắp được chiếc điện thoại di động Iphone 4S và cục Pin sạc dự phòng hiệu MI trị giá 2.300.000 đồng của anh Trần Xuân B ở làng S, xã P, huyện S, tỉnh Gia Lai, sau đó mang về nhà cất giấu để sử dụng.

Bị cáo là người có sức khỏe nhưng lười lao động, muốn có tài sản để sử dụng cho mục đích cá nhân nên bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác đã nhiều lần trộm cắp tài sản, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự và đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, tài sản trộm cắp đã được trả lại cho người bị hại, nên áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với chị Lê Thị H là người sử dụng chiếc điện thoại di động Nokia Lumia 925 mà Nguyễn Văn B trộm cắp được nhưng chị Lê Thị H không biết đây là tài sản trộm cắp được mà có. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai không đề cập xử lý đối với chị Lê Thị H là phù hợp nên miễn xét.

Đối với ông Nguyễn Văn N là người cho Nguyễn Văn B mượn chiếc xe mô tô Hon da Dream, biển kiểm soát 77H3 – 9179 để đi cắt tóc nhưng Nguyễn Văn B đã sử dụng đi trộm cắp tài sản nhưng ông Nguyễn Văn N không biết. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai không đề cập xử lý đối với ông Nguyễn Văn N là phù hợp nên miễn xét.

Đối với anh Nguyễn Cao C là người sửa chiếc điện thoại di động Iphone 4S cho Nguyễn Văn B nhưng anh Nguyễn Cao C không biết đây là tài sản trộm cắp được mà có. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai không đề cập xử lý đối với anh Nguyễn Cao C là phù hợp nên miễn xét.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với chiếc xe mô tô Hon da Drem, biển kiểm soát 77H3 – 9179 là tài sản của ông Nguyễn Văn N. Vào ngày 03/12/2016, Nguyễn Văn B mượn đi cắt tóc nhưng đã sử dụng đi trộm cắp tài sản nhưng ông Nguyễn Văn N không biết. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai không tạm giữ là phù hợp nên miễn xét.

- Đối với chiếc điện thoại di động Nokia Lumia 925 là tài sản hợp pháp của chị Cao Thị H. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã trả lại cho chị Cao Thị H là phù hợp nên miễn xét.

- Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 4S và cục Pin sạc dự phòng hiệu MI là tài sản hợp pháp của anh Trần Xuân B. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã trả lại cho anh Trần Xuân B là phù hợp nên miễn xét.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, chị Cao Thị H và anh Trần Xuân B không yêu cầu gì nên miễn xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn B có hành vi trộm cắp tài sản với mục đích thu lợi bất chính, nhưng xét bị cáo phạm tội gia đình kinh tế khó khăn, không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại để thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn xét

4. Về vật chứng của vụ án: Miễn xét

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/02/2017) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ