- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Mỹ P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Mỹ P, giữ nguyên b n án sơ thẩm; xử
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật t tụng hình sự
| T A N NH N D N T NH L M Đ NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n án s : 15/2017/HSPT Ngày : 22/02/2017 |
NHÂN DANH
N C C NG H A X H CH NGH A V T NAM
T A N NH N D N T NH L M Đ NG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Đồng
- Các Thẩm phán:
Bà Hoàng Thị Minh Hương
Ông Võ Đình Nghị
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy; Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tân; Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 18/2017/HSPT ngày 23/01/2017 đ i với bị cáo Lê Thị Mỹ P do có kháng cáo của bị cáo đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 177/2016/HSST ngày 21/12/2016 của Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
ị cáo kháng cáo. Họ và tên: Lê Thị Mỹ P, sinh năm 1979, tại Lâm Đồng. Nơi ĐKHKTT và cư trú: S 1 Bis đường N, phường M, thành ph Đ, tỉnh Lâm Đồng. Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán. Con ông Lê Văn C, sinh năm 1950; Con bà Lâm Thị N, sinh năm 1950. Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Người bào chữa: Luật sư Lê Cao T, Văn phòng Luật sư BT, Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Trong vụ án này, còn có người bị hại nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị, nên Tòa án không triệu tập.
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử về hành vi phạm tội như sau:
Do quen biết với chị Võ Đắc Diệu Q, nên bị cáo thường hay đến nhà của chị Q chơi và biết được chị Q cất bóp tiền trong tủ quần áo ở trong phòng ngủ. Trong thời gian quen biết, bị cáo có nợ chị Q 6.500.000đ mà không có tiền để tr , nên P đã n y sinh ý định trộm cắp tiền của chị Q để tr nợ.
Thực hiện ý định trên, ngày 23/8/2016 bị cáo đến nhà chị Q leo lên cửa sổ lan can trước nhà, thò tay qua ô cửa thông gió để mở cửa sổ. ị cáo vào trong nhà đóng cửa sổ lại và đi thẳng vào phòng ngủ của vợ chồng chị Q, mở tủ quần áo lấy bóp tiền lấy 5.500.000đ và 100 USD (một tờ Đô la Mỹ mệnh giá loại 100USD), sau đó bị cáo cất bóp vào trong tủ quần áo và đi ra theo l i đi vào.
Sau khi trộm cắp, bị cáo cầm tờ 100USD đến khu vực trung tâm thành ph Đ đổi được 2.300.000đ cho một người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ, sau đó bị cáo đón xe thồ đến Trường mầm non X nơi chị Q công tác để tr nợ. Tuy nhiên, trên đường đi bị cáo làm mất tiền nên chưa tr nợ được cho chị Q. Lúc này, bị cáo nhớ trong bóp tiền của chị Q còn một thẻ ATM nên đã quay trở lại nhà chị Q, tiếp tục theo đường cửa sổ lúc trước vào lấy thẻ ATM, sau đó bị cáo cầm thẻ ra Aribank chi nhánh thành ph Đ, đường N để rút tiền, khi đưa thẻ vào trụ rút tiền ATM thì bị cáo nghĩ đến ngày tháng năm sinh của chị Q, đồng thời bấm ngày tháng năm sinh của chị Q thì đúng là mật khẩu của thẻ. ị cáo rút 5.000.000đ rồi quay lại nhà chị Q tr lại thẻ ATM vào bóp của chị Q, sau đó bị cáo tiếp tục đón xe thồ đến Trường mầm non X gặp chị Q tr nợ. Khi gặp, chị Q nói “em bị mất tiền trong thẻ ATM” và cùng bị cáo về nhà lấy thẻ ATM đến Aribank chi nhánh thành ph Đ để hỏi, sau khi nhân viên Ngân hàng cho coi lại camera thì chị Q nhận ra người rút tiền từ thẻ ATM của mình chính là bị cáo, đồng thời bị cáo thừa nhận là lấy tiền và thẻ ATM của chị Q.
Tang vật thu giữ 01 thẻ ATM của Aribank mang tên Võ Đắc Diệu Q và 5.000.000đ tiền mặt. Cơ quan Công an đã xử lý tr lại cho chị Q là chủ sở hữu. Đ i với s tiền 5.500.000đ và 100 USD tương ứng 2.226.000đ cũng đã được bị cáo và gia đình bị báo bồi thường xong.
Tại B n án hình sự sơ thẩm s 177/2016/HSST ngày 21/12/2016 của Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt, tuyên b bị cáo Lê Thị Mỹ P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Kho n 1 Điều 138, Điểm b, p Kho n 1, Kho n 2 Điều 46, Điểm g Kho n 1 Điều 48 ộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, b n án còn gi i quyết về án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 26/12/2016, bị cáo kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt và đề nghị được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Tòa án xem xét áp dụng thêm tình tiết gi m nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng là nghiêm khắc, đề nghị áp dụng Điều 60 ộ luật hình sự, cho bị cáo hược hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị căn cứ Điểm b Kho n 2 Điều 248 ộ luật t tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo theo hướng sửa b n án sơ thẩm gi m 3 tháng tù cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa.
XÉT THẤY
Lợi dụng sự quen biết và đến nhà người bị hại chơi, đồng thời biết việc người bị hại cất bóp tiền trong tủ quần áo ở trong phòng ngủ. Ngoài ra, từ việc quen biết này, bị cáo có nợ chị Q 6.500.000đ mà không có tiền để tr , nên bị cáo đã n y sinh ý định trộm cắp tiền của chị Q để tr nợ.
Thực hiện ý định trên, ngày 23/8/2016 bị cáo đến nhà người bị hại leo lên cửa sổ lan can trước nhà, thò tay qua ô cửa thông gió để mở cửa sổ để vào trong nhà và đi thẳng vào phòng ngủ, mở tủ quần áo lấy s tiền 5.500.000đ và 100 USD (một tờ Đô la Mỹ mệnh giá lại 100USD) trong bóp, sau đó bị cáo cất bóp vào vị trí cũ và trở ra theo l i đi vào. Không dừng lại hành vi trộm cắp lần một, bị cáo tiếp tục quay trở lại nhà người bị hại và cũng theo cách vào nhà như lần trước lấy trộm thẻ ATM của người bị hại, sau đó bị cáo đến trụ rút tiền ATM của Aribank chi nhánh thành ph Đ đường N để rút tiền chiếm đoạt s tiền 5.000.000đ. Đ i chiếu với tài liệu chứng cứ thu giữ vật chứng, biên b n xác minh hiện trường, lời khai của người bị hại, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp. Cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện chứng cứ tuyên bị cáo Lê Thị Mỹ P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Kho n 1 Điều 138 ộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến tài s n của cá nhân được pháp luật b o vệ, không những gây nh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, còn thể hiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hai lần, trong đó mỗi lần đều đủ yêu t cấu thành tội phạm. Cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại Điểm g Kho n 1 Điều 48 ộ luật hình sự là có căn cứ, nên bị cáo kháng cáo đề nghị áp dụng tình tiết gi m nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là không có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo xin gi m nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết gi m nhẹ mới, trong khi các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự đã được cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ như đã bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo theo quy định Điểm b, p Kho n 1 Điều 46 ộ luật hình sự. Ngoài ra, người bị hại xin gi m nhẹ hình phạt cũng đã được cấp sơ thẩm áp dụng Kho n 2 Điều 46 ộ luật hình sự. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên b n án sơ thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo ph i chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên; Căn cứ vào Điểm a Kho n 2 Điều 248 ộ luật t tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Mỹ P, giữ nguyên b n án sơ thẩm; xử
1. Tuyên b bị cáo Lê Thị Mỹ P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Kho n 1 Điều 138; các Điểm b, p Kho n 1, Kho n 2 Điều 46; Điểm g Kho n 1 Điều 48; Điều 33 ộ luật hình sự.
Xử phạt: ị cáo Lê Thị Mỹ P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. uộc bị cáo Lê Thị Mỹ P ph i chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án cấp cao tại TP. HCM - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Phòng KTNV&THA (1) - TA thành ph Đà Lạt (02) - VKS thành ph Đà Lạt (1) - Công an thành ph Đà Lạt (1) - Chi cục THADS Đà Lạt - ị cáo (để thi hành) - Lưu hồ sơ; Án văn | TM. H Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Kim Đồng |