- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST 148 14.7.2023 - Quách Trung H, Trần Trung D - “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 255 - phạm tội tổ chức sử dụng trái…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Quách Trung H, Trần Trung D phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2013/NQ-HĐND Về dự toán và phân bổ ngân sá…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2023/HS-ST Ngày 14 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy T
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh P
Ông Hoài Đức H
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Hương T - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại Phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Quách Trung H, sinh ngày 21 tháng 01 năm 1999, tại Đ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đ; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Kim H và bà Tống Thị H, có vợ tên Danh Thị Hồng T, sinh năm 2000, có 01 con sinh năm 2018.
Tiền án: không.
Tiền sự: không;
Bị bắt giam, giữ từ ngày 23 tháng 02 năm 2023 đến nay.
2. Trần Trung D, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1997, tại A. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã A, huyện C, tỉnh A; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trung V và bà Lê Thị Vàng E; sống chung như vợ chồng với bà Đỗ Vũ Thùy T.
Tiền án: không.
Tiền sự: không;
Bị bắt giam, giữ từ ngày 23 tháng 02 năm 2023 đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quách Trung H quen biết và hẹn với Trần Trung D sẽ đến phòng trọ số 1, Cơ sở trọ L thuộc ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai của D để cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 23/02/2023, H đến khu vực ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai mua của đối tượng tên D (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng mang đến phòng trọ của D. Trần Trung D đã chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy và chuẩn bị nơi để hút ma túy là nhà vệ sinh trong phòng trọ D ở. Sáu đó cả hai đi vào nhà vệ sinh lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra cùng nhau sử dụng ma túy.
Đến 11 giờ cùng ngày 23/2/2023, H và D bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ là 01 bộ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa ắp màu cam có gắn nỏ thủy tinh có bám dính chất màu trắng đục - Đã được niêm phong) và 01 hộp quẹt gas của D sử dụng vào việc phạm tội.
Tại Kết luận giám định số xxx/KL-KTHS ngày 02/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu chất màu trắng đục được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng”.
Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 151/CT-VKS.HS ngày 15/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố các bị cáo Quách Trung H, Trần Trung D về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt các bị cáo Quách Trung H, Trần Trung D mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bộ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa ắp màu cam có gắn nỏ thủy tinh có bám dính chất màu trắng đục - Đã được niêm phong) và 01 hộp quẹt gas của Danh công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo chịu theo luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Vào 11 giờ 00 phút, ngày 23/02/2023, Quách Trung H, Trần Trung D đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật tại ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội nên có đủ căn cứ và cơ sở để xác định hành vi của các bị cáo Quách Trung H, Trần Trung D đã phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo biết việc tổ chức sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên các bị cáo đã tổ chức sử dụng, qua đó cho thấy các bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Hiện nay, tệ nạn mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng ma túy diễn ra hết sức phức tạp, lôi kéo nhiều người vào con đường nghiện ngập là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa ắp màu cam có gắn nỏ thủy tinh có bám dính chất màu trắng đục - Đã được niêm phong) và 01 hộp quẹt gas của D là công cụ sử dụng vào việc phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015.
Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2013/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Đối với người đàn ông tên D bán ma túy cho Quách Trung H, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra xác minh làm rõ, xử lý sau phù hợp quy định pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố các bị cáo Quách Trung H, Trần Trung D phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Quách Trung H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Trung D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2023.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa ắp màu cam có gắn nỏ thủy tinh có bám dính chất màu trắng đục - Đã được niêm phong) và 01 hộp quẹt gas của Trần Trung D là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
Hiện vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22 tháng 6 năm 2023, của Chi cục thi hành án dân sự huyện N.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2013/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Về án phí: Buộc các bị cáo Quách Trung H, Trần Trung D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện N; - Công an huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Lưu hồ sơ vụ án, AV | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XƯ SƠ THẨM Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Duy T |