- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Đăng L phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 148/2017/HSST. Ngày: 28/7/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Huy Cƣờng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Thiện;
2. Ông Hoàng Phú.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, cán bộ Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương: Ông Mai Chiến Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2017, tại Văn phòng Ban điều hành khu phố A, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 141/2017/HSST ngày 30/6/2017 đối với bị cáo:
Trần Đăng L, sinh năm 1987 tại tỉnh Q; nơi đăng ký NKTT: Thôn K, xã K, huyện L, tỉnh Q; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12, con ông Trần Đăng K và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1965; tiền án: Ngày 17/7/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 10/02/2015 bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về Tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có với tình tiết tăng nặng “tái phạm”; Ngày 28/10/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, với tình tiết tăng nặng “tái phạm”, Ngày 11/10/2016 bị cáo chấp hành xong hình phạt; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 10/3/2017 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời bị hại:
- Bà Đinh Thị Ánh T, sinh năm 1995; HKTT: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh; tạm trú: Khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10/3/2017, Trần Đăng L hẹn gặp ngƣời bạn tên H (chƣa rõ nhân thân, địa chỉ) đến bãi đất trống thuộc phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để đi trộm cắp xe môtô. H đồng ý và điều khiển xe kiểu dáng Exciter màu xanh bạc chƣa rõ biển số tới chỗ hẹn chở L ngồi phía sau, trên đƣờng đi H có đƣa cho L 02 cây đoản kim loại hình chữ T và chữ I, một khối kim loại hình lục giác dùng để bẻ ổ khóa, hai chìa khóa có mài mòn một đầu dùng cho vào ổ khóa sau khi đã bẻ để che mắt mọi ngƣời không biết ổ khóa đã bị bẻ. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, H điều khiển xe đi đến đoạn đƣờng trƣớc cửa hàng quần áo G thuộc địa chỉ khu phố, phƣờng B thì H dừng xe đứng bên đƣờng, còn L tiến lại gần trƣớc cửa, tiếp cận xe môtô kiểu dáng Wave biển số M của chủ sở hữu là bà Đinh Thị Ánh T rồi phá ổ khóa xe. Sau khi phá xong ổ khóa, L lùi xe đƣợc khoảng 02 mét định quay đầu nổ máy tẩu thoát thì bị ngƣời dân phát hiện truy hô bắt giữ giao Công an phƣờng B. Riêng ngƣời tên H đã tẩu thoát khỏi hiện trƣờng.
Tang vật thu giữ: 01 đoản bằng kim loại hình chữ T, 01 đoản bằng kim loại hình chữ I, 01 khối kim loại hình lục giác, hai lƣỡi khóa có mài mòn một đầu, 01 xe môtô hai bánh kiểu dáng Wave biển số M.
Bản kết luận định giá ngày 14/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong
TTHS kết luận xe môtô kiểu dáng Wave biển số M có trị giá là 14.000.000 đồng.
Trên cơ sở chứng cứ tài liệu thu thập đƣợc, ngày 20/3/2017 Cơ quan điều tra đã quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và tạm giam đối với Trần Đăng L về tội Trộm cắp tài sản để điều tra. Quá trình điều tra xác định đƣợc chiếc xe mô tô hai bánh biển số 67M1-346.94 thuộc sở hữu của bà Đinh Thị Ánh T, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho bà T, bà T không có yêu cầu về bồi thƣờng dân sự. Đối với ngƣời tên H hiện chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ.
Bản Cáo trạng số 162/QĐ/KSĐT ngày 29/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Trần Đăng L về tội Trộm cắp tài sản theo Điểm c Khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các vấn đề sau: Về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu; về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo đối với tội danh, điều khoản nêu trên với mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác;
XÉT THẤY
Tại phiên toà, bị cáo Trần Đăng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 10/3/2017 bị cáo L đƣợc ngƣời tên H (chƣa xác định đƣợc lai lịch) điều khiển xe mô tô hai bánh chở đến khu vực phƣờng B, thị xã Thuận An để trộm cắp tài sản. Khi cả hai đi đến trƣớc cửa hàng quần áo Gia Huy có địa chỉ số F khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng thì H dừng xe đứng bên lề đƣờng còn L đi bộ vào dùng cây đoản bẻ ổ khóa xe mô tô hai bánh của bà Đinh Thị Ánh T rồi đầy lùi xe đƣợc khoảng 02m thì bị phát hiện bắt giữ, riêng ngƣời tên H đã chạy thoát.
Hành vi của bị cáo Trần Đăng L lén lút lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu nhằm chiếm đoạt tài sản là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Bị cáo đã bị xử phạt nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là nguy hiểm và vi phạm pháp luật, sẽ bị trừng trị nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo chiếm đoạt tài sản có tổng trị giá 14.000.000 đồng. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã từng phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm chƣa đƣợc xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, nhƣ vậy lần phạm tội này thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản đƣợc quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Bản thân bị cáo là thanh niên có sức khỏe, trong độ tuổi lao động, lẽ ra bị cáo phải nỗ lực lao động để tạo ra của cải vật chất lo cho bản thân, phụ giúp gia đình và trở thành ngƣời có ích cho xã hội; nhƣng vì động cơ tƣ lợi, tham lam, muốn hƣởng thụ nhƣng lƣời lao động nên bị cáo đã dấn thân vào con đƣờng phạm tội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm để trừng trị và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, vai trò các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại; nên Hội đồng xét xử áp dụng Điểm g, p Khoản 01 Điều 46 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng nên không đặt ra xem xét.
Về xử vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô hai bánh biển số M đã trả lại cho chủ sở hữu là bà T là phù hợp. Đối với 01 đoản kim loại hình chữ T, 01 đoản kim loại hình chữ I, 01 khối kim loại hình lục giác, 02 lƣỡi chìa khóa mài mòn 01 đầu là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Đăng L phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 138; Điểm g, p Khoản 01 Điều 46 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Trần Đăng L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 đoản kim loại hình chữ T, 01 đoản kim loại hình chữ I, 01 khối kim loại hình lục giác, 02 lƣỡi chìa khóa mài mòn 01 đầu.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/6/2017 giữa Công an thị xã Thuận an với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận An).
3. Về án phí: Bị cáo Trần Đăng L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ngƣời bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THA thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo; - Ngƣời tham gia tố tụng khác; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Cao Huy Cường |