- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Vi C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Vi C. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2017/HSPT Ngày 14 tháng 12 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Hữu
Bà Châu Minh Hoàng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà:
Ông Bùi Vũ Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà:
Bà Quách Xía Muội - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 166/2017/HSPT ngày 31 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo: Phạm Vi C, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Thới B.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Vi C, sinh năm 1987 (có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Ấp 9, xã Thới B, huyện Thới B, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Phạm Công D và bà Nguyễn Thị N; Vợ: Huỳnh Thị L; con có 01 người; Tiền án: 01 tiền án, tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2014/HS-ST ngày 30/9/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Phước L, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 02/9/2016; Tiền sự: 01 tiền sự, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC ngày 20/6/2017 của Công an huyện Thới B phạt 2.000.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt. Tạm giữ ngày 21/7/2017, tạm giam ngày 27/7/2017.
Người bị hại: Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn Thới B, huyện Thới B, tỉnh Cà Mau (vắng mặt)
NHẬN THẤY:
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới B và bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Thới B, nội dung vụ án như sau:
Lúc 16 giờ ngày 20 tháng 7 năm 2017, Phạm Vi C đi bộ đến quán Chí Tâm thuộc khóm 2, thị trấn Thới B chơi, C vào phòng của nhân viên phục vụ quán để nói chuyện với anh Dương Chí Tâm, chị Nguyễn Thu T và chị Nguyễn Thu N. C ngồi một lúc thì anh Tâm, chị T và chị N đi ra ngoài có việc còn C ở trong phòng phát hiện có một chiếc điện thoại cảm ứng hiệu OPPO A37NEO9 có gắn sim số 0944.904.992 của chị T để trên giường, C nảy sinh lấy trộm nên lấy điện thoại và đi về phòng trọ của chị Tăng Thị Cúc tại Khóm 1, thị trấn Thới B, huyện Thới B cất giấu trên la phông của phòng trọ. Đến 16 giờ 15 phút cùng ngày, chị T phát hiện mất điện thoại và nghi ngờ C lấy nên đã báo Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thới B. Qua làm việc C thừa nhận hành vi lấy trộm điện thoại và tự nguyện giao nộp lại.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận giá trị tài sản tại thời điểm mất trộm: 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPOA37NEO9 giá trị 3.191.300 đồng, 01 sim số 0944.904.992 có giá 120.000đồng; Tổng giá trị tài sản là 3.311.300đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Thới B quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vi C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Phạm Vi C 01(một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2017.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.
Ngày 05/10/2017, bị cáo C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo C giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã xét xử. Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;
XÉT THẤY:
Vào lúc 16 giờ ngày 20/7/2017, bị cáo có hành vi lén lút vào phòng của chị Nguyễn Thu T để lấy trộm 01 điện thoại OPPO A37NEO9 để sử dụng. Tài sản bị cáo chiếm đoạt được định giá là 3.311.300 đồng.
Do đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Vi C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bản thân bị cáo có 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma tuý, 01 tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không cải sửa làm lại cuộc đời mà tiếp tục thực hiện tội phạm. Án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 01(một) năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không được chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Vi C. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Vi C 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2017.
Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam – Công an tỉnh Cà Mau; - Công an huyện Thới Bình; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình; - Tòa án nhân dân huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu:Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn; - Lưu VT( TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |