vanban.org

Bản án 146/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 28/09/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/09/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Nguyên N. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 180/2026/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

Tuyên bố bị cáo Ngô Nguyên N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt Ngô Nguyên N 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2026.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Nguyên N - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Nguyên N. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 180/2026/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2026/HS-PT
Ngày 28-9-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Huy Lưỡng

Các Thẩm phánÔng Phạm Văn Khôi

Ông Lại Văn Tùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Sơn, bà Bùi Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 193/2026/TLPT-HS ngày 27 tháng 8 năm 2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2026/QĐXXPT-HS ngày 14 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo Ngô Nguyên N. Do có kháng cáo của bị cáo Ngô Nguyên N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 180/2026/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

* Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Ngô Nguyên N, sinh năm 1986; số định danh cá nhân: 035086000207; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường L, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Như T (đã chết) và bà Đinh Thị H; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1994 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/05/2006, Công an thị xã P, tỉnh Hà Nam (cũ) quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 100.000 đồng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 24/8/2010, Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hà Nam (cũ) quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 28/12/2015, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên bố phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng được miễn trách nhiệm hình sự. Ngày 30/6/2017, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt 33 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 18/8/2020, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 10/12/2024, Công an huyện K, tỉnh Hà Nam (cũ) quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/01/2026 đến nay; có mặt.

* Bị cáo không kháng cáo: Vũ Xuân T1, sinh năm 1996 tại Ninh Bình; số định danh cá nhân: 035096001210; Nơi cư trú: Tổ dân phố H (nay là T4), phường L, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Hoàng Hương T2, sinh năm 1989; địa chỉ: Số nhà C Ngõ C tổ I phường P, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Phi Y, sinh năm 2007; địa chỉ: Tổ A, phường P, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

3. Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ dân phố H (nay là T4), phường L, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

4. Điều tra viên: Trung tá Đinh Văn D - Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 21/12/2025, Vũ Xuân T1 đang ở nhà cùng với Hoàng Hương T2 thì Ngô Nguyên N gọi điện bảo T1 đi đón Nguyễn Phi Y nên T1 đồng ý rồi đi đón Y về nhà mình. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi T1, T2, Y đang ở nhà T1 thì N đến, N nói với T1: “Lấy bình ra để sử dụng vã lắm rồi”, hiểu ý N bảo đi lấy dụng cụ để sử dụng ma túy nên T1 đi ra phòng khách lấy chai nhựa màu trắng (loại chai đựng nước ngọt) đục thủng một lỗ nhỏ ở thân chai rồi dùng vỏ bút bi hơ nóng, uốn cong làm tẩu hút cắm vào thân chai tạo thành bình hút ma túy ngựa. Sau đó, T1 lấy tờ giấy bạc có sẵn trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ xé thành nhiều mảnh nhỏ làm máng sử dụng ma túy rồi để xuống trước mặt N, T2 và Y. Lúc này N lấy trong túi quần bên phải ra một túi nilon bên trong có chứa ma túy, rồi lấy 04 viên ma túy ngựa màu đỏ ra để lên vỏ bao thuốc lá Thăng L1. T1 lấy một viên ma túy trong số ma túy N bỏ ra để vào trong giấy bạc rồi châm lửa đốt ma túy cho N sử dụng đầu tiên, khi N sử dụng xong thì đưa bình hút ma túy cho T1, T1 cầm bình và châm lửa đốt ma túy để tự sử dụng. Tiếp theo T1 châm lửa đốt ma túy cho Y sử dụng, khi Y sử dụng xong T1 hỏi T2 có chơi ma túy không thì T2 bảo mệt không chơi. Sau đó T1 tiếp tục châm lửa đốt ma túy cho N sử dụng lần thứ hai và quay vòng, lần này T1 tiếp tục bảo T2 sử dụng ma túy thì T2 đồng ý nên T1 đã châm lửa đốt ma túy cho T2 sử dụng. Sau khi tất cả mỗi người sử dụng được khoảng hai đến ba lần thì hết số ma túy N đã bỏ ra, lượt cuối cùng Y tự châm lửa đốt ma túy và sử dụng hết. Sau khi sử dụng xong ma túy, N đứng lên đi về còn T1, T2, Y ở lại trong phòng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an phường L, tỉnh Ninh Bình phối hợp Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N đến kiểm tra nơi cư trú của Vũ Xuân T1 phát hiện các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên đã lập biên bản vụ việc.

Sau khi T1, T2, Y bị lực lượng Công an phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy và lập biên bản vụ việc, Ngô Nguyên N đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Ngày 04/01/2026, N bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N.

Vật chứng, tài sản thu giữ của vụ án:

- 01 chai nhựa trong suốt màu trắng hình trụ, không có nắp chai, cao khoảng 18cm, đường kính đáy chai khoảng 04cm, đường kính miệng chai khoảng 02cm, phần thân chai có gắn một đoạn ống nhựa màu xanh loại vỏ bút bi dài khoảng 14cm trong ống có bám dính chất màu trắng đục niêm phong trong túi bìa carton ký hiệu QT01; 05 mảnh giấy bạc bị cháy vo tròn đường kính từ 0,5cm đến 1,5cm niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02; 01 túi nilon màu trắng hình chữ nhật, kích thước (03 x 05 cm trên miệng túi có đường kẻ sọc màu đỏ niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03; 01 bật lửa màu đỏ; thu giữ mẫu nước tiểu của Vũ Xuân T1, Hoàng Hương T2 và Nguyễn Phi Y đựng trong chai nhựa niêm phong ký hiệu NT01, NT02 và NT03 để phục vụ công tác giám định.

- Khám xét nơi ở của Ngô Nguyên N thu giữ: 01 khẩu súng chiều dài khoảng 90cm, báng súng màu nâu, trên thước ngắm của súng có chữ Sharp - T, tay cò, nòng súng bằng kim loại màu đen, báng súng có nhiều hoa văn, trên nòng súng có in dãy số 5352155 được niêm phong trong hộp bìa carton ký hiệu KX01; 01 con dao có bản màu vàng quấn dây dù màu xanh, lưỡi dao bằng kim loại, mũi nhọn, dài khoảng 50cm; 01 con dao chuôi gỗ màu nâu, lưỡi dao bằng kim loại, đầu nhọn, dài khoảng 50cm: 01 con dao bằng kim loại, chuôi dao bằng nhựa màu đen, trên lưỡi dao có in chữ Trung Quốc, phần cán dao có hình đầu rồng, dài khoảng 30cm; 01 con dao bằng kim loại, có vỏ bao bằng da màu đen, lưỡi dao sắc, đầu nhọn, chuôi dao có dạng lỗ, dài khoảng 20cm; 01 con dao bằng kim loại màu trắng bạc, đầu dao vuông, dài khoảng 50cm; 01 con dao bằng kim loại, chuôi màu nâu có thể gấp lại được dài khoảng 25cm; 01 con dao bằng kim loại, mũi dao nhọn, cán dao bằng nhựa màu vàng, dài khoảng 20cm; 01 con dao bằng kim loại, mũi dao nhọn, cán dao quấn băng keo màu đen, dài khoảng 20cm; 01 bằng sắt, bản vuông khoảng 01cm, cán màu đỏ, dài khoảng 15cm; 01 gậy sắt bằng kim loại có thể rút ra thu vào chiều dài khoảng 50cm; 01 bình xịt hơi cay trên vỏ có in chữ “TAKE DOWN”; tạm giữ 01 xe nhãn hiệu DAEWOO màu đen, biển kiểm soát: 30A-506.36, xe cũ đã qua sử dụng; thu giữ mẫu nước tiểu của Ngô Nguyên N trong chai nhựa niêm phong ký hiệu NT01 phục vụ công tác giám định.

Tại Kết luận giám định số 166/KL-KTHS ngày 29/12/2025, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01 thu của Nguyễn Phi Y gửi giám định; tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT02 thu của Hoàng Hương T2 gửi giám định; tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT03 thu của Vũ Xuân T1 gửi giám định”.

Tại Kết luận giám định số 196/KL-KTHS ngày 29/12/2025, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: "01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh trong túi ký hiệu QT01 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Methamphetamine; 05 (năm) mảnh giấy bạc màu trắng không rõ hình, cháy một phần, bị vo tròn trong phong bì ký hiệu QT02 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Methamphetamine; 01 (một) túi nilon màu trắng có kẹp nhựa, viền màu đỏ trong phong bì ký hiệu QT03 gửi giám định có bám dính ma túy loại: Methamphetamine".

Tại Kết luận giám định số 471/KL-KTHS ngày 12/01/2026, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01 thu của Ngô Nguyễn Ngọc gửi giám định".

Tại Kết luận giám định số 524/KL-KTHS ngày 15/01/2026, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu vật gửi giám định ký hiệu KX01 là loại súng nén hơi sử dụng lực đẩy của pít tông lò xo nén, cỡ nòng 4,5mm, bắn đạn cỡ 4.5mm thuộc Phụ lục 1 "Danh mục vũ khí quân dụng” Thông tư số BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”.

Quá trình điều tra, Vũ Xuân T1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, còn Ngô Nguyên N không thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội. Tiến hành cho Vũ Xuân T1, Hoàng Hương T2 và Nguyễn Phi Y nhận dạng đối với Ngô Nguyên N, kết quả: T1, T2, Y đều nhận dạng được N và đều khẳng định N là người đã cung cấp 04 viên ma túy ngựa màu đỏ, sau đó đã cùng T1, T2, Y sử dụng trái phép ma túy ngày 21/12/2025 tại nhà ở của T1.

* Bản án hình sự sơ thẩm số: 180/2026/HS-ST ngày 17/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, đã quyết định: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, các điều 17, 38, 47, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các điều 329, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng thêm điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Xuân T1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Nguyên N.

Tuyên bố các bị cáo Ngô Nguyên N và Vũ Xuân T1 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Nguyên N 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/01/2026.

Xử phạt bị cáo Vũ Xuân T1 08 (T3) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21/12/2025.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/7/2026, bị cáo Ngô Nguyên N kháng cáo kêu oan, đề nghị TAND tỉnh Ninh Bình xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị cáo Ngô Nguyên N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị cáo không cung cấp ma túy để bị cáo cùng T1, Y, T2 sử dụng ngày 21/12/2025, bị cáo cho rằng Cơ quan điều tra đã cố tình dựng lên bản cung giả, lời khai khống của bị cáo, bị cáo cho rằng số ma túy mà Ngô Nguyên N, Vũ Xuân T1, Hoàng Hương T2, Nguyễn Phi Y cùng nhau sử dụng ngày 21/12/2025 là của Vũ Xuân T1.

Bị cáo không kháng cáo Vũ Xuân T1 xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, bị cáo không có khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án. Đồng thời, bị cáo Vũ Xuân T1 thừa nhận toàn bộ các lời khai của bị cáo có trong hồ sơ đều đúng sự thật. Vũ Xuân T1 xác định: khoảng 09 giờ 30 ngày 21/12/2025, tại nhà ở của Vũ Xuân T1 ở tổ dân phố H, phường L, tỉnh Ninh Bình, Ngô Nguyên N, Vũ Xuân T1, Hoàng Hương T2, Nguyễn Phi Y đã cùng nhau sử dụng ma túy loại Methamphetamine (ma túy ngựa). Vũ Xuân T1 là người chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy gồm chai nhựa, giấy bạc, bật lửa và châm lửa đốt số ma túy cho Ngô Nguyên N, Hoàng Hương T2, Nguyễn Phi Y. Trong quá trình sử dụng ma túy Ngô Nguyên N đã đưa chai nhựa (cóng) cho T1 sau khi N hít xong lần đầu tiên. Toàn bộ số ma túy mà Ngô Nguyên N, Vũ Xuân T1, Hoàng Hương T2, Nguyễn Phi Y cùng nhau sử dụng ngày 21/12/2025 là của Ngô Nguyên N mang đến.

Bà Đinh Thị H trình bày: việc sử dụng ma túy của N, bà H không chứng kiến. Đối với việc xử lý vật chứng bà H không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã có đủ căn cứ xác định: Ngô Nguyên N là người cung cấp ma túy để Ngô Nguyên N, Vũ Xuân T1, Hoàng Hương T2, Nguyễn Phi Y cùng nhau sử dụng ma túy. Trong quá trình sử dụng ma túy Ngô Nguyên N đã thực hiện hành vi đưa chai nhựa cho T1 sau khi N hít xong lần đầu tiên. Hành vi của Ngô Nguyên N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp: “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N kháng cáo kêu oan chỉ nhằm mục đích chối tội. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Án phí phúc thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Nguyên N trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng:

Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cho rằng Cơ quan điều tra đã cố tình dựng lên bản cung giả, lời khai khống của bị cáo. Xét các lời khai của bị cáo có trong hồ sơ,bị cáo đều ký nhận vào các câu trả lời, cuối văn bản đều tự viết “ Tôi đã đọc lại và công nhận là đúng” và ký tên. Mặt khác, nội dung các bản cung do Cơ quan điều tra lập đều trùng với nội dung với bản tự khai do chính bị cáo viết (BL190). Ngoài ra, trong giai đoạn sơ thẩm bị cáo đã có đơn đề nghị giải quyết sai phạm của cơ quan điều tra và được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N giải quyết. Theo Thông báo kết quả giải quyết đơn số 2542 (BL 356) của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã khẳng định Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong quá trình điều tra đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự việc bị cáo viết đơn phản ánh không đúng sự thật nhằm mục đích chối tội. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Ngô Nguyên N không khai nhận hành vi cung cấp ma túy để bị cáo cùng T1, Y, T2 sử dụng ngày 21/12/2025, bị cáo cho rằng bị cáo không phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên, những người cùng sử dụng ma túy với bị cáo ngày 21/12/2025 là Vũ Xuân T1, Hoàng Hương T2, Nguyễn Phi Y đều có lời khai thống nhất số ma túy để sử dụng ngày 21/12/2025 là của bị cáo Ngô Nguyên N mang đến. Mặt khác, tại bản tự khai ngày 04/01/2026 bị cáo đã tự viết “… tôi hút một hơi và đưa chai cho T1, đồng thời móc trong túi quần ra một gói nilon màu xanh khoảng hơn chục viên mà đã mua trước đó để trước mặt để tôi chơi” lời tự khai của bị cáo phù hợp với nội dung Bản ghi lời khai ngày 04/01/2026 (BL186-187), Biên bản hỏi cung bị can ngày 05/01/2026 (BL 188-189) cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 09 giờ 30 ngày 21/12/2025, tại nhà ở của Vũ Xuân T1 ở tổ dân phố H, phường L, tỉnh Ninh Bình, Ngô Nguyên N, Vũ Xuân T1, Hoàng Hương T2, Nguyễn Phi Y đã cùng nhau sử dụng ma túy loại Methamphetamine (ma túy ngựa), Vũ Xuân T1 là người chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy gồm chai nhựa, giấy bạc, bật lửa và châm lửa đốt số ma túy cho Ngô Nguyên N, Hoàng Hương T2, Nguyễn Phi Y. Trong quá trình sử dụng ma túy, Ngô Nguyên N đã có hành vi đưa chai nhựa (cóng) cho T1 sau khi N hít xong lần đầu tiên. Toàn bộ số ma túy mà Ngô Nguyên N, Vũ Xuân T1, Hoàng Hương T2, Nguyễn Phi Y cùng nhau sử dụng ngày 21/12/2025 là của Ngô Nguyên N. Hành vi của bị cáo Ngô Nguyên N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp: “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Bản án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Ngô Nguyên N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo Ngô Nguyên N 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù là đúng người đúng tội phù hợp với đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Nội dung kháng cáo kêu oan của bị cáo Ngô Nguyên N không có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Ngô Nguyên N phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Nguyên N. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 180/2026/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, các Điều 17, 38, 50, 58, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Nguyên N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Ngô Nguyên N 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2026.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Ngô Nguyên N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ