- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Xuân D - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG ——————— Bản án số: 146/2025/HS - ST Ngày: 29/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Lực và bà Nguyễn Thị Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly, là Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân D, sinh năm 1990 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: 2 đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; bị cáo có vợ tên Nguyễn Phạm T1, sinh năm 2001 và có 2 con sinh năm 2020 và 2022; tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 30/6/2011, TAND thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản”, theo bản án số 191, ngày 01/3/2012 nộp án phí, ngày 24/01/2016 chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo ra đầu thú ngày 16/01/2025; bị tạm giữ, bắt tạm giam từ 17/01/2025, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: 1. Anh Nguyễn Phạm T2; 2. Ông Bùi Ngọc S, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 15/01/2025, Nguyễn Xuân D tham dự tiệc tất niên tại quán “Dê Vườn Xoài 6” thuộc đường số A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tại đây D gặp người thanh niên mặc áo sơ mi trắng (không rõ nhân thân) đốt pháo ở ngoài đường nên đi ra xem. Do chuẩn bị về quê nên D muốn mua pháo mang về quê đốt dịp tết. Diệu đến gặp thanh niên này đề cập bán cho D loại pháo gồm: pháo nổ loại 100 ống giá 2.200.000 đồng, 01 hộp pháo nổ loại 49 ống giá 1.300.000 đồng, 01 hộp pháo nổ loại 16 ống giá 2.200.000 đồng, pháo banh nổ 100 viên giá 650.000 đồng. Tổng số tiền D đặt mua 11.150.000 đồng. Diệu đặt cọc trước 5.000.000 đồng tiền mặt và cho địa chỉ chỗ ở của D ở 2 đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để giao pháo và trả tiền còn lại. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 16/01/2025, 01 người đàn ông mặc đồ G đi xe mô tô (không rõ nhân thân) đến địa chỉ giao cho D số pháo đã đặt, Diệu kiểm tra số lượng và trả 6.150.000 đồng. Số lượng pháo D nhận và mang cất giấu ở phần gác trong nhà. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày lực lượng Công an phường T (nay Công an tỉnh B) kiểm tra hành chính căn nhà D đang ở Diệu mang số pháo cất giấu ra giao nộp. Đối với người đàn ông bán pháo và người đàn ông đi xe mô tô giao pháo cho D không rõ nhân thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.
Vật chứng thu giữ:
- 01 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 12 cm x 12cm x 29cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc có in ký hiệu L 2.5C16N, bên trong chứa 16 ống; 03 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10 cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc in ký hiệu KS4-4911L, bên trong mỗi khối chứa 49 ống; 02 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 24 cm x 24 cm x 10 cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc có in ký hiệu KS4-10011, bên trong mỗi khối chứa 100 ống; 01 túi nylon chứa các hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2,5 cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh.
Kết luận giám định số 412/KLHS ngày 20/01/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - V, Bộ C thì toàn bộ số pháo thu giữ của Nguyễn Xuân D:
- 01 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 12 cm x 12 cm x 29 cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc có in ký hiệu L 2.5C16N, bên trong chứa 16 ống gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng 5,1 kg.
- 03 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17cm x 17 cm x 10 cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc có in ký hiệu KS4-4911L, bên trong mỗi khối chứa 49 ống gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng 05kg.
- 02 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 24cm x 24 cm x 10 cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc có in ký hiệu KS4-10011, bên trong mỗi khối chứa 100 ống gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng 06 kg.
- 01 túy nylon chứa các hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh gửi giám định là pháo nổ. khối lượng 0,4 kg.
Tổng khối lượng 16,5 kg.
Cáo trạng số 144/CT-VKS - DA ngày 26/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Xuân D về tội “Tàng trữ hàng cấm”, theo quy định điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt Bộ luật hình sự). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
+ Điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D từ 15 đến 18 tháng tù.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ pháo thu giữ còn lại sau giám định.
Bị cáo D không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc mình làm là sai, bị cáo xin được xem xét giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D (nay Công an tỉnh B), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Chứng cứ xác định có tội của bị cáo Nguyễn Xuân D: Vào ngày 16/01/2025 bị cáo D mua của người thanh niên không rõ nhân thân 16,5 kg pháo hoa các loại và cất giấu ở nhà để sử dụng đốt dịp tết. Kết luận giám định số 412/KLHS ngày 20/01/2025 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C thì 16.5 kg pháo hoa các loại thu giữ của D là pháp nổ (pháo hoa nổ). Hành vi trên của bị cáo D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 144/CT-VKS-DA ngày 26 tháng 3 năm 2025 và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo D trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú hành vi phạm tội. Các tình tiết trên được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo D có nhân thân tốt thể hiện ở việc không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên cũng xét xét bị cáo đã từng bị xét xử 8 năm tù về tội “Cướp tài sản” đến nay bị cáo được đương nhiên xoá án tích. Nhưng thể hiện sự không hướng thiện và việc chấp hành pháp luật của bị cáo.
Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo D phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 3 năm tù, bị cáo cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm chế độ độc quyền trong việc sản xuất, quản lý pháo nổ của nhà nước. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Xét khối lượng pháo tàng trữ. Nhận thức của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để giáo dục cũng như mang tính chất răn đe, phòng ngừa chung.
Về vật chứng: Đối với số pháo còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật chứng phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2025.
2. Các biện pháp tư pháp.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Giao bộ chỉ huy quân sự tỉnh B tịch thu tiêu huỷ pháo hoa nổ còn lại sau giám định bao gồm: 04 (bốn) khối hình chữ nhật phân cấp 5; 01 (một) túi ni lon phân cấp 5. Tổng trọng lượng 9 kg. Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Công an thành phố D (nay là Công an tỉnh B) với phòng Hậu cần - kỹ thuật kho vũ khí - đạn.
2.Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Xuân D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01); - Công an tỉnh Bình Dương (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - Người tham gia tố tụng (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - THA hình sự (04); - UBND xã, phường bị cáo thường trú (01); - UBND xã, phường (nơi phát hiện tội phạm); - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PC 10 CA tỉnh Bình Dương (01); - Phân trại tạm giam khu vực TP. Dĩ An (01); - Lưu: VT, HSVA (02). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Linh |