- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T và các bị cáo khác - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị số 22/QĐ-VKS-VC2 ngày 18/8/2020 của Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 146/2022/HSPT Ngày: 15/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trương Minh Tuấn.
Các thẩm phán:
Ông Trần Quốc Cường.
Ông Mai Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quang Toàn, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.
Vào ngày 15 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2022/TLPT-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 đối với các cáo về tội “Tổ chức đánh bạc”, “Đánh bạc”. Do có kháng cáo của các b cáo, kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HS-ST ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 1148/2022/QĐXXPT-HS ngày 18 tháng 02 năm 2022.
- Các bị cáo có kháng cáo và kháng nghị:
1. Trần Văn T (tên gọi khác: Quốc), sinh năm 1986 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn TY, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn V, sinh năm 1960 và à Nguyễn Th H, sinh năm 1962; có vợ Phạm Th Minh H1, sinh năm 1990 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016; tiền sự: Ngày 29/11/2018, Công an huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 đồng về hành vi đánh người khác (đã nộp phạt); ngày 24/5/2019, Công an huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 đồng về hành vi đánh người khác (đã nộp phạt); tiền án: Không; nhân thân: Ngày 12/9/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm tuyên phạt 39 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành án xong ngày 08/01/2009; tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 21/01/2020 thay đổi iện pháp ngăn chặn cho ảo lĩnh; vắng mặt.
2. Phạm Thành A, sinh năm 1995 tại tỉnh Phú Yên; nơi cứ trú: Thôn TY, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1959 và à Nguyễn Th L, sinh năm 1964; có vợ Nguyễn Th H2, sinh năm 1995 và 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; tiền sự: Ngày 08/6/2018 Công an huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi đánh nhau (đã nộp phạt); ngày 29/11/2018 Công an huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi đánh người khác (đã nộp phạt); tiền án: Không; nhân thân: Ngày 27/02/2012, Ủy an nhân dân huyện S áp dụng iện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi đánh người, gây rối trật tự công cộng, chấp hành xong ngày 07/3/2014; ngày 13/6/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm tuyên phạt 01 năm 06 tháng tú về tội “Vi phạm quy đ nh về điều khiển phương tiện giao thông đường ộ”, chấp hành án xong ngày 08/11/2017; tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 21/01/2020 thay đổi iện pháp ngăn chặn ảo lĩnh; vắng mặt.
3. Trần Ngọc H3, sinh năm 1989 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn Phước Lộc 2, xã Hòa Thành, Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Ngọc P, sinh năm 1966 và à Lê Th Th1, sinh năm 1965; có vợ Hà Th Thanh Th và 01 con, sinh năm 2017; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Ngày 08/5/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong 19/8/2008; tạm giữ từ ngày 12/11/2019 đến ngày 14/11/2019 thay đổi iện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt.
4. Trần Đình T1, sinh năm 1975 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn 18, xã Eariêng, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Anh T2 (chết) và à Nguyễn Th Th2, sinh năm 1947; có vợ Hồ Th H4, sinh năm 1988 và 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; tiền sự, tiền án: Không; tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020 thay đổi iện pháp ngăn chặn ảo lĩnh; có Đơn xin xét xử vắng mặt.
5. Trần Trọng T3, sinh năm 1989 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn 7, xã EaLai, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Trọng S, sinh năm 1957 và à Phan Th B, sinh năm 1959; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 14/6/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm phạt 04 tháng tù về tội Đánh ạc, chấp hành xong ngày 17/11/2017; nhân thân: Ngày 26/5/2009 Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xét xử phúc thẩm phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 07/01/2010; tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 10/01/2020, thay đổi iện pháp ngăn chặn ảo lĩnh; vắng mặt.
6. Lý Văn N, sinh năm 1966 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn 5, xã C1, huyện M, tỉnh tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lý Văn R (chết) và à Tơ Th T4 (chết); có vợ Vũ Th Huệ, sinh năm 1972 (đã ly hôn) và 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Ngày 08/12/1990, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh ĐăkLăk xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”; ngày 19/8/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên khởi tố can về tội “Đánh ạc”; tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020 thay đổi iện pháp ngăn chặn ảo lĩnh; có mặt.
7. Nguyễn Văn T6, sinh năm 1958 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn 4, xã Cư Króa, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C2 (chết) và à Hoàng Th S1 (chết); có vợ Nguyễn Th B1, sinh năm 1958; và 04 con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1989; tiền sự, Tiền án: Không; tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020, thay đổi iện pháp ngăn chặn ảo lĩnh; có mặt.
8. Nguyễn Ngọc Q (tên gọi khác: Cu em), sinh năm 1992 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn TY, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tr1, sinh năm 1955 và à Nguyễn Th Th3, sinh năm 1958; có vợ Nguyễn Th H5, sinh năm 1992; tiền sự, tiền án: Không; tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020 thay đổi iện pháp ngăn chăn ảo lĩnh; có Đơn xét xử vắng mặt.
9. Trương Minh T7, sinh năm 1986; tại tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, th trấn M’Đrắk, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trương Minh Hồng, sinh năm 1945 và à Trần Th Quang, sinh năm 1947; có vợ Đỗ Th Huyền, sinh năm 1990 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Ngày 04/7/2008, Công an th trấn M’Đrăk, huyện M’Đrăk xử phạt hành chính 500.000 đồng về hành vi Đánh ạc (đã nộp phạt); tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020 thay đổi iện pháp ngăn chặn ảo lĩnh; có mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác:
Người bào chữa cho bị cáo Trương Minh T7: Bà Nguyễn Th Khánh Duy - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Đình T1, bị cáo Trần Trọng T3: Luật sư Đinh Xuân Tĩnh- Văn phòng luật sư An Việt Luật. Đ a chỉ: Số 278A Lý Thường Kiệt, p Thắng Lợi, tp Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đoàn Văn Nhữ, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn 4, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Anh Trần Văn Thành, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn 17, xã Eariêng, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Anh Ngô Sỹ Huy, sinh năm 1975; nơi cư trú: 59 Phan Huy Chú, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Bà Nguyễn Thanh Vân, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Thôn 17, xã Eariêng, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Ch Nguyễn Th Thanh Nhật, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn TY, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Anh Trần Hồng Bình, sinh năm 1989; nơi cư trú: Khu phố 2, Phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, Phú Yên.
- Anh Nguyễn Văn Đạt, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Phú Lễ, xã Hòa Thành, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Ông Nguyễn Văn Đ nh, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Thôn Phú Lễ, xã Hòa Thành, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Do có kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng cáo của một số cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/11/2019, Trần Văn T gọi điện thoại rủ Trần Đình T1 đến nhà T thuê ở thôn TY, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên để đánh ạc. Tại nhà T1 lúc này có Lý Văn N, Nguyễn Văn T6 và Trần Văn Thành. T1 nói lại việc T rủ xuống nhà T đánh ạc, thì N, T6 và Thành cùng đồng ý đi đến nhà T đánh ạc. T1 điều khiển xe ôtô iển số 47A-113.50 chở N, T6 và Thành cùng đi, trên đường đi T1 điện thoại rủ Trần Trọng T3. Thành điện thoại rủ Trương Minh T7 cùng đi, khi đi đến huyện M’Đắk, tỉnh Đăk Lăk, T1 đưa xe cho Thành điều khiển chở tất cả đến nhà T. Trần Ngọc H3, Nguyễn Ngọc Q và Nguyễn Văn Nhữ iết tại nhà T thuê chuẩn tổ chức đánh ạc nên đến tham gia đánh ạc. Để tổ chức đánh ạc, T gọi điện thoại nói Phạm Thành A đến chuẩn dụng cụ để đánh ạc và thu tiền xâu đưa lại cho T. A đến lấy dụng cụ gồm 01 ộ xóc đĩa có 04 con v được cắt ra từ quân cơ của ộ ài tây 52 lá, 01 đĩa sứ, 01 chén sứ và chiếu đem trải tại phòng ếp trong nhà T thuê để tổ chức đánh ạc. T trả tiền công cho A 500.000 đồng/đêm, A có nhiệm vụ thu tiền xâu đối với người chơi thắng cược từ 1.000.000 đồng trở lên, theo T quy ước đối với người chơi thắng từ 1.000.000 đồng trở lên thì A thu tiền xâu 50.000 đồng/1.000.000 đồng cuối uổi đưa lại cho T. Khoảng 22 giờ cùng ngày, T1 làm cái xóc đĩa cho T, N, T7, T6, T3, H3, Q đánh ạc được thua ằng tiền với hình thức chẵn lẻ; đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 12/11/2019, T1 đưa lại cho T làm cái xóc đĩa để N, T7, T6, T3, H3 và Q đánh ạc, số tiền đánh ạc một người mỗi ván khoảng từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng, tổng số tiền đánh ạc mỗi ván khoảng dưới 10.000.000 đồng. Đến 01 giờ 50 phút ngày 12/11/2019, Công an tỉnh Phú Yên ắt quả tang thu giữ trên chiếu ạc 24.930.000 đồng. Thu trên người các con ạc gồm H3 6.000.000 đồng, T6 3.000.000 đồng, Q 100.000 đồng, T3 60.000 đồng (tiền sẽ dùng đánh ạc). A đã thu tiền xâu khoảng 04 đến 05 lần được khoảng 300.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HS-ST ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:
Căn cứ Điểm c, Khoản 2 Điều 290; Khoản 1 Điều 291; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Các cáo Trần Văn T, Phạm Thành A phạm tội “Tổ chức đánh ạc”; các cáo Trần Ngọc H3, Trần Đình T1, Trần Trọng T3, Lý Văn N, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Ngọc Q, Trương Minh T7 phạm tội “Đánh ạc”.
+ Áp dụng Điểm c, Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các cáo Trần Văn T, Phạm Thành A; phạt:
- B cáo Trần Văn T – 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 21/01/2020.
Phạt ổ sung cáo Trần Văn T 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
- B cáo Phạm Thành A – 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 21/01/2020.
Phạt ổ sung cáo Phạm Thành A 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
+ Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các cáo Trần Ngọc H3, Trần Đình T1, Trần Trọng T3, Lý Văn N, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Ngọc Q, Trương Minh T7; thêm Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với các cáo H3, T1, T3, N, T6, Q; thêm Điểm i, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các cáo T1, T6, Q, T7; thêm Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các cáo T1, T7; thêm Điểm h, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với cáo T3; thêm Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với cáo N, phạt:
- B cáo Trần Ngọc H3 - 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt
cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 12/11/2019 đến ngày 14/11/2019.
Phạt ổ sung cáo Trần Ngọc H3 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
- B cáo Trần Trọng T3 - 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 10/01/2020.
Phạt ổ sung cáo Trần Trọng T3 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
- B cáo Lý Văn N - 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 (Bảy) tháng tù tại Bản án số: 10/20202/HSST ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk. Buộc cáo Lý Văn N phải chấp hành hình phạt chung của 02 ản án là: 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2020 (Ngày cáo tự nguyện chấp hành án), nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 13/8/2019 đến ngày 19/8/2019 (Đối với hành vi phạm tội tại huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk) và tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020 (Đối với hành vi phạm tội tại huyện S, tỉnh Phú Yên).
Phạt ổ sung cáo Lý Văn N 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
- B cáo Trần Đình T1 - 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020.
Phạt ổ sung cáo Trần Đình T1 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
- B cáo Nguyễn Văn T6 - 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt
cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020.
Phạt ổ sung cáo Nguyễn Văn T6 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
- B cáo Nguyễn Ngọc Q - 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt
cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020.
Phạt ổ sung cáo Nguyễn Ngọc Q 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
- B cáo Trương Minh T7 - 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết đ nh về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Tại Quyết đ nh kháng ngh phúc thẩm số 22/QĐ-VKS-VC2 ngày 18/8/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Tòa phúc thẩm: Hủy Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra, xét xử lại theo đúng quy đ nh của pháp luật.
Ngày 23/7/2020, cáo Trần Ngọc H3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 29/7/2020, cáo Nguyễn Ngọc Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 30/7/2020, các cáo Trần Trọng T3, Trần Đình T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và giảm số tiền nộp phạt.
Ngày 3/8/2020, cáo Nguyễn Văn T6 kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại ản án hình sự phúc thẩm số 276/2020/HSPT ngày 28/9/2020 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng đã chấp nhận kháng cáo của cáo Nguyễn Văn T6 sửa ản án sơ thẩm và giữ nguyên ản án sơ thẩm đối với các cáo khác; tại Quyết đ nh Giám đốc thẩm số 48/2021/HS-GĐT ngày 06/10/2021 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã chấp nhận kháng ngh giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tôi cao hủy toàn ộ Bản án phúc thẩm nói trên chuyển hồ sơ vụ án cho TAND cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo quy đ nh của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát iểu quan điểm về giải quyết vụ án như sau: Đề ngh chấp nhận kháng ngh của Viện trương Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy một phần Bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với b cáo Trần Văn T, giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm điều tra xét xử lại. Đối với kháng cáo của b cáo Nguyễn Văn T6 là có căn cứ đề ngh xem xét cho cáo T6 được hưởng án treo theo quy đ nh tại Điều 65 BLHS; đối với kháng cáo của các cáo khác đề ngh giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
B cáo Nguyễn Văn T6: Hoàn cảnh gia đình khó khăn đề ngh xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
B cáo Lý Văn N: Đề ngh giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên.
B cáo Trương Minh T7: Đề ngh giữ nguyên mức hình phạt tù án sơ thẩm đã tuyên.
Tại Đơn xin xét xử vắng mặt, các cáo Trần Đình T1, Nguyễn Ngọc Q trình ày gia đình các cáo khó khăn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận; Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận:
Phiên tòa phúc thẩm mở lần thứ hai, các cáo tại ngoại Trần Văn T, Phạm Thành A đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng điều vắng mặt; đối với các cáo Trần Ngọc H3, Trần Trọng T3 có đơn của gia đình xác nhận của chính quyền đ a phương áo các cáo đã đi chấp hành án; đối với các cáo Trần Đình T1, Nguyễn Ngọc Q có đơn đề ngh xét xử vắng mặt, người ào chữa cho các cáo Trương Minh T7, Trần Đình T1, Trần Trọng T3 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các cáo và người ào chữa theo quy đ nh tại Điều 351 BLTTHS.
Xét kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, thấy:
Khoảng 22 giờ ngày 11/11/2019, tại nhà của Trần Văn T thuê ở thôn TY, xã E, huyện S, tỉnh phú Yên; T và Phạm Thành A đã tổ chức cho Trần Đình T1, Lý Văn Văn N, Nguyễn Văn T6, Trần Trọng T3, Trương Minh T7, Trần Ngọc H3, Nguyễn Ngọc Q đánh ạc ăn thua ằng tiền với hình thức xóc đĩa; đến khoảng 01 giờ 50 phút ngày 12/11/2019 thì bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc và trên người các con ạc 34.090.000 đồng. Tòa án sơ thẩm đã xét xử các cáo Trần Văn T và Phạm Thành A về tội “Tổ chức đanh ạc” các cáoTrần Đình T1, Lý Văn Văn N, Nguyễn Văn T6, Trần Trọng T3, Trương Minh T7 Trần Ngọc H3, Nguyễn Ngọc Q về tội “Đánh ạc” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với b cáo Trần Văn T ngoài hành vi tổ chức đánh ạc, Trần Văn T còn trực tiếp tham gia đánh ạc với vai trò là con ạc và người cầm cái xóc đĩa cho các con ạc là cáo khác cùng đánh ạc và bắt quả tang với tổng số tiền thu giữ 34.090.000đ; Tòa án sơ thẩm đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên yêu cầu điều tra bổ sung, nhưng tại Công văn số 782/CV-VKS-P1 ngày 5/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên giữ quan điểm truy tố. Xét thấy, cấp sơ thẩm không điều tra, truy tố, xét xử b cáo Trần Văn T về tội “đánh ạc” là thiếu sót, ỏ lọt hành vi phạm tội và tội danh đối với Trần Văn T. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh hủy một phần bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với b cáo Trần Văn T, phù hợp với nhận đ nh của Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy một phần bản án sơ thẩm về phần tội danh và hình phạt đối với b cáo Trần Văn T để điều tra, truy tố, xét xử lại đúng quy đ nh của pháp luật theo quy đ nh tại điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; đối với các cáo khác không có kháng cáo và tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã rút kháng ngh , do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm, bản án sơ thẩm đối với các cáo có hiệu lực pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các cáo Trần Ngọc H3, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trọng T3, Trần Đình T1; xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T6, thấy:
B cáo Trần Ngọc H3 là người trực tiếp tham gia đánh ạc từ đầu đến khi b bắt, đem theo số tiền 66 triệu đồng, dùng đánh ạc 06 triệu và đánh ạc số tiền lớn nhất so với các đồng phạm còn lại; b cáo có nhân thân xấu đã từng b kết án về tội Trộm cắp tài sản. Đối với b cáo Trần Trọng T3 là người trực tiếp tham gia đánh ạc; b cáo Trần Trọng T3 đang có tiền án về tội Đánh ạc, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Đối với b cáo Trần Đình T1 sau khi nhận điện thoại của Trần Văn T rủ đánh ạc, đã trực tiếp rủ thêm Lý Văn N, Nguyễn Văn T6, Trần Trọng T3 và sử dụng xe ô tô chở các đồng phạm đến nhà T cùng tham gia, làm chủ cái từ khoảng 22 giờ đến 00 giờ 10 phút. Đối với b cáo Nguyễn Văn T6 đem theo 3.000.000 đồng đánh ạc khoảng 20 ván; cáo Nguyễn Ngọc Q đem theo 150.000 đồng và mượn b cáo H3 2.000.000 đồng đánh ạc từ đầu đến khi b bắt.
Với nhưng hành vi trên của các cáo, khi quyết đ nh hình phạt Tòa án sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất và mức độ phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng b cáo xử phạt các cáo như quyết đ nh của bản án sơ thẩm là có căn cứ, không nặng và phù hợp quy đ nh của pháp luật. Các cáo kháng cáo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, khác; do đó không chấp nhận kháng cáo của các cáo, giữ nguyên quyết đ nh của bản án sơ thẩm.
Các phần khác và quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Các B cáo không được chấp nhận kháng cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm, b cáo Trần Văn T không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Ngh quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội, quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356, Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Căn cứ Ngh quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội, quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng nghị số 22/QĐ-VKS-VC2 ngày 18/8/2020 của Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HS-ST ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên về tội danh và hình phạt đối với b cáo Trần Văn T và giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên để điều tra lại theo đúng quy đ nh của pháp luật.
2. Không chấp nhân kháng cáo của các bị cáo Trần Ngọc H3, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trọng T3, Trần Đình T1, Nguyễn Văn T6 và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
+ Áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các cáo Trần Ngọc H3, Trần Đình T1, Trần Trọng T3, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Ngọc Q, thêm Điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các cáo T1, T6, Q; thêm Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các cáo T1; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với cáo T3; xử phạt:
- B cáo Trần Ngọc H3 – 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt
cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 12/11/2019 đến ngày 14/11/2019.
Phạt ổ sung cáo Trần Ngọc H3 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
- B cáo Trần Trọng T3 – 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 10/01/2020.
Phạt ổ sung cáo Trần Trọng T3 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
- B cáo Trần Đình T1 – 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020.
Phạt ổ sung cáo Trần Đình T1 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
- B cáo Nguyễn Văn T6 – 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020.
Phạt ổ sung cáo Nguyễn Văn T6 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
- B cáo Nguyễn Ngọc Q – 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 12/11/2019 đến ngày 09/01/2020.
Phạt ổ sung cáo Nguyễn Ngọc Q 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
3. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các cáo Phạm Thành A, Lý Văn N và Trương Minh T7; Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HS-ST ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đối với các cáo Phạm Thành A, Lý Văn N và Trương Minh T7 có hiệu lực pháp luật.
4. Các phần khác và quyết đ nh khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
5. Án phí phúc thẩm: Các bị cáo Trần Ngọc H3, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trọng T3, Trần Đình T1, Nguyễn Văn T6 phải ch u án phí hình sự phúc thẩm, mỗi b cáo phải ch u là 200.000, đồng (Hai trăm ngàn đồng). B cáo Trần Văn T không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên; - Phòng HSNV Công an tỉnh Phú Yên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Phú Yên; - B cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HCTP, HSVA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Minh Tuấn |