vanban.org

Bản án 145/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 02/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Tô Th H và Nguyễn Duy Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Tô Th H 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 05/6/2021. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Th 27 (Hai mươi bảy) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/6/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Thanh H và Nguyễn Duy Th phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Tô Th H và Nguyễn Duy Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁNNHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––
Bản án số: 145 /2021/HSST
Ngày: 02/11/2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Ngà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn và bà Bùi Thị Kim Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2021/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Tô Th H, Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 30 tháng 9 năm 1986, tại Cẩm Phả, Quảng Ninh;

Nơi thường trú: Tổ 100, khu 8A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: Lớp 12/12;

Nghề nghiệp: Công nhân;

Đoàn thể, chức vụ: Không.

Họ tên bố: Tô A K tên mẹ: Hoàng Thị Ph

Vợ: Nguyễn Thị Ph;

Có hai con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ khẩn cấp ngày 05/6/2021, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Duy Th, Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 26 tháng 10 năm 1983, tại Cẩm Phả, Quảng Ninh;

Hộ khẩu thường trú: Tổ 96, khu 9, phườngC; thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

Chỗ ở: Tổ 75, khu 6B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Trình độ học vấn: Lớp 12/12;

Nghề nghiệp: Công nhân;

Đoàn thể: Đảng viên thuộc Chi bộ phân xưởng vận tải 5 (bị đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 21/6/2021); Chức vụ: không.

Họ tên bố: Nguyễn Văn T; Họ tên mẹ: Đặng Thu H.

Vợ: Nguyễn Mai Ph.

Có 01 con, sinh năm 2008;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị giữ khẩn cấp ngày 05/6/2021, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

-Chị Nguyễn Thị Đ – sinh năm 1985

Nơi ĐKHKTT: Tổ 27, khu 2, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

-Anh Nguyễn Xuân H – sinh năm 1970

Nơi ĐKHKTT: Tổ 6, khu C 2, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

-Anh Đoàn Minh K – sinh năm 1981

Nơi ĐKHKTT: Tổ 09, khu 1B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

-Anh Mai Huy Th – sinh năm 1971

Nơi ĐKHKTT: Tổ 3, khu 4A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

Đều vắng mặt tại phiên Tòa.

*Người chứng kiến:

-Chị Đặng Thu H– sinh năm 1964

Nơi ĐKHKTT: Tổ 79, khu 6B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

Đều vắng mặt tại phiên Tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 05/6/2021, Công an thành phố Cẩm Phả phối hợp với Công an phường Cẩm Phú, kiểm tra hành chính nhà Nguyễn Duy Th tại tổ 75 khu, 6B, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, phát hiện Th, Tô Th H và Nguyễn Thị Đ có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu trên mặt bàn gỗ trong phòng ngủ của Th: 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá (01 chai thủy tinh có nắp chai nhựa màu trắng đục 02 lỗ gắn 01 ống hút nhựa); 01 nỏ thủy tinh, bên trong dính chất tinh thể màu trắng, 01 túi nilon kích thước (2x2,4)cm bên trong dính chất tinh thể màu trắng, 01 bật lửa nhãn hiệu “Thong Nhat”; 01 điện thoại Iphone màu trắng lắp sim số 0338831388 của Nguyễn Duy Th; 01 điện thoại Iphone lắp sim số: 0981193958 của Tô Th H.

Tại bản kết luận giám định số 1052/KLGĐ ngày 12/6/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảnh Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng dạng vết trong 01 túi nilon kích thước (2x2,4)cm là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng; Chất cặn màu nâu đen trong chai thủy tinh là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,147 gam. Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Duy Th, Tô Th H, Nguyễn Thị Đ có chất ma túy Methamphetamine (BL 34).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Tô Th H và Nguyễn Duy Th khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 05/6/2021, Tô Th H gọi điện thoại cho Nguyễn Duy Th để H đến nhà Th, rồi H gọi điện thoại rủ Nguyễn Thị Đ cùng đến nhà Th, Đ đồng ý, H và Đ đến nhà Th ngồi chơi được khoảng 10 phút thì H đi ra ngoài, H đã đi mua được một túi ma túy đá, đem về để trên mặt bàn uống nước. Th khi thấy H mua ma túy mang về, Th không phản đối gì, chủ động lấy bộ đồ sử ma túy ra, cho ma túy vào nỏ thủy tinh rồi dùng bật lửa đốt tạo khói để cả ba người sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể. Lần lượt, Th sử dụng trước rồi đến Đ và cuối cùng là H. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Công an thành phố Cẩm Phả kiểm tra hành chính, phát hiện và thu giữ các vật chứng như cáo trạng mô tả. Ngoài ra bị cáo Tô Th H khai nhận túi ma túy đá là do H mua của Nguyễn Xuân H với giá 300.000 đồng, tại khu vực ngõ nhà Th, khi mua không có ai biết, tiền mua ma túy là của bị cáo, bị cáo mua ma túy về cho bị cáo Th và cho Đ cùng sử dụng là do quan hệ bạn bè chứ không vì mục đích tư lợi nào khác.

Người làm chứng là chị Nguyễn Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra có lời khai: Khoảng 20 giờ ngày 05/6/2021 Tô Th H gọi điện rủ chị xuống nhà Th chơi, chị đã đồng ý, sau khi đến nhà Th, ngồi chơi một lát thì H đi ra ngoài, khi về có để ra bàn uống nước tại nhà Th một túi ma túy đá, Th lấy đồ sử dụng ma túy sẵn có tại nhà Th, Th là người trực tiếp đổ ma túy vào nỏ thủy tinh, là người dùng bật lửa đốt ma túy, Th sử dụng trước sau đưa cho chị, H sử dụng sau cùng, sau đó khoảng 15 phút khi cả 3 người vẫn ngồi chơi tại nhà Th thì các anh Công an đến kiểm tra phát hiện sự việc sử dụng ma túy, quá trình kiểm tra Công an đã thu giữ bộ đồ sử dụng ma túy, vỏ túi nilon đựng ma túy và lấy mẫu nước tiểu của chị đi giám định. (BL 176). Ngoài ra Đ còn có lời khai ngày 03/6/2021, Đ nhìn thấy Th và H sử dụng ma túy đá tại nhà Th, nhưng tại phiên tòa Th và H đều không thừa nhận nội dung này.

Người làm chứng khác là anh Nguyễn Xuân H, anh Đoàn Minh Kiên và anh Mai Huy Thái vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra có lời khai thể hiện nội dung: ngày 05/6/2021 anh Nguyễn Xuân H được bố trí công việc trực ca 2 tại công trường xúc Thắng Lợi thuộc Công ty Cổ phần than cọc 6, thời gian làm việc từ 15 giờ đến 23 giờ cùng ngày; ngoài ra khi đối chất với Tô Th H, anh Nguyễn Xuân H khẳng định tối ngày 05/6/2021 bị cáo Tô Th H có gọi điện cho anh nhưng là để hỏi thăm sức khỏe và rủ anh đi uống nước nhưng do anh đang đi làm lên không nhận lời, anh cho rằng Tô Th H khai tối 05/6/2021 mua ma túy của anh là do Tô Th H bị ảo giác sau khi sử dụng ma túy. (BL 182; 184-18).

Người làm chứng khác là bà Đặng Thu Hương, vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra có lời khai thể hiện nội dung: Nguyễn Duy Th là con trai bà, do Th và vợ ly thân nên khoảng 4 năm trở lại đây Th về ở cùng vợ chồng bà, trên thửa đất có hai căn nhà, Th ở căn nhà cấp 4, khi Th và hai người khác sử dụng ma túy tại nhà của bà thì bà không biết, ngôi nhà bà chưa sang tên cho Th; tối ngày 05/6/2021 bà chứng kiến công an kiểm tra nơi ở của Th và chứng kiến công an thu giữ vật chứng. (BL 204).

Tài liệu có trong hồ sơ: Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy có nội dung xác định Nguyễn Thị Đ không nghiện các chất ma túy (BL 37); Biên bản kiểm tra hành chính (BL 26); Biên bản niêm phong đồ vật (BL 27; 42); Biên bản khám nghiệm hiện trường (BL 38-42); Biên bản làm việc ngày 6/6/2021 về việc Tô Th H, Nguyễn Duy Th và Nguyễn Thị Đ xác định diễn biến sự việc cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Nguyễn Duy Th (BL 52-58), các tài liệu này đều có nội dung phù hợp lời khai của các bị cáo, phù hợp lời khai của người làm chứng Nguyễn Thị Đ.

Tại bản cáo trạng số 132/CT – VKSCP ngày 24/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Tô Th H và Nguyễn Duy Th về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa kiểm sát viên trình bày luận tội bị cáo với đề nghị kết tội bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 255 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tô Th H từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/6/2021; xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Th từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/6/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; ngoài ra có quan điểm xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đều trình bày, thực sự ăn năn hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Tô Th H và Nguyễn Duy Th khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng Nguyễn Thị Đ, phù hợp lời khai của người chứng kiến, ngoài ra phù hợp tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Trên cơ sở các chứng cứ trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 00 phút ngày 05/6/2021, tại nhà của Nguyễn Duy Th ở tổ 75 khu 6B, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Tô Th H và Nguyễn Duy Th đã có hành vi tổ chức cho Nguyễn Thị Đ sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine.

Hành vi này của các bị cáo Tô Th H, Nguyễn Duy Th đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự, tội danh có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm. Cáo trạng truy tố các bị cáo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện làm cho người sử dụng pH lệ thuộc vào nó, ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng và là nguồn phát sinh tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Pháp luật Nhà nước ta xử lý nghiêm khắc đối với các tội về ma tuý, mục đích để ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy trong xã hội. Các bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma tuý đối với người sử dụng và biết được sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vì lối sống không có trách nhiệm với bản thân với xã hội, các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi tổ chức cho Nguyễn Thị Đ sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương, gây mất trật tự, trị an xã hội. Vì vậy cần xử lý cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục các bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo tỏ thái độ ăn năn hối cải, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về vai trò: Vụ án có đồng phạm mức độ giản đơn, bị cáo Tô Th H là người khởi xướng và mua ma túy, nên H giữ vai trò đầu vụ, bị cáo Th tiếp nhận ý chí của H, cung cấp địa điểm, cùng H tổ chức cho Đ sử dụng trái phép chất ma túy, nên Th có vai trò sau H.

Về vật chứng: 0,08gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá bao gồm: 01 chai thủy tinh có nắp chai nhựa màu trắng đục 02 lỗ gắn 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh, sau khi giám định xong, xác định là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 bật lửa nhãn hiệu “Thong Nhat” không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại Iphone màu trắng thu giữ của Nguyễn Duy Th, xác định bị cáo không dùng vào việc phạm tội, nên trả cho bị cáo; 01 điện thoại Iphone màu vàng thu giữ của Tô Th H xác định bị cáo đã dùng để gọi điện cho Nguyễn Thị Đ rủ Đ xuống nhà Th để sử dụng ma túy, xác định đã dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo phạm tội không vì mục đích tư lợi và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hay tịch thu một phần tài sản của các bị cáo.

Án phí: Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố Cẩm Phả đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Nguyễn Xuân H, theo Tô Th H khai đã bán ma túy cho Tô Th H, nhưng quá trình điều tra chưa đủ cơ sở để xác định Nguyễn Xuân H là người đã bán ma túy cho Tô Th H, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Đối với nội dung Nguyễn Thị Đ khai, ngày 03/6/2021, Nguyễn Duy Th và Tô Th H sử dụng ma túy cùng với nhau, nhưng Th và H đều không thừa nhận và không có tài liệu nào khác chứng minh, nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Tô Th H và Nguyễn Duy Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Tô Th H 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 05/6/2021.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Th 27 (Hai mươi bảy) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/6/2021.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu huỷ: số ma túy, số đồ vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1052/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Duy Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, mặt trước máy bị vỡ, mặt sau và viền máy có nhiều vết trày xước, kèm 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, Model: A1688, mặt sau máy bị tróc sơn, kèm 01 sim, điện thoại đã cũ.

(Hiện trạng toàn bộ vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 07/BB-THA ngày 15/10/2021 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Tô Th H và Nguyễn Duy Th mỗi bị cáo pH chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi nhận:

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân tỉnh QN;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN;

- Viện kiểm sát nhân dân TP. Cẩm Phả

- Công an TP Cẩm Phả, CQ THA hình sự;

- Trại tạm giam Công an tỉnh QN;

\

- Chi cục thi hành án dân sự TP.Cẩm Phả;

- Bị cáo,

Đặng Thị Minh Ngà

- Lưu hồ sơ, lưu văn phòng. Các thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Thị Minh Ngà

Cỡ chữ