- Tranh chấp gì? án hình sự — "trần quang minh - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Trừ cho bị cáo số tiền đã nộp 700.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 144/2022/HS-ST Ngày 27-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Bà Phạm Thị Bấm
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 144/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Quang M, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1960 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 111-113 Đ, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 75B Đ, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng và Số 7A/52 L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Phạm Thị C (đều đã chết); có vợ là Vũ Thị Bích T (đã ly hôn) và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 05/8/2022; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 24/7/2022, Công an quận N bắt quả tang Trần Quang M có hành vi mua bán thuốc lá ngoại không rõ nguồn gốc, xuất xứ tại cửa hàng “ Chè mộc - Thuốc lá - Thuốc Lào Trần An ”, địa chỉ: Số 75B Đ, L, N, Hải Phòng. Vật chứng thu giữ: 01 thùng giấy carton đựng 50 cây thuốc lá điếu (gồm 500 bao thuốc lá) nhãn hiệu: “ZOUK” và “CANYON”, mỗi mã hàng là 25 cây thuốc lá điếu đều không có giấy tờ chứng M nguồn gốc, giấy tờ hàng hóa mua bán.
Ngay sau đó, Trần Quang M tự nguyện giao nộp 10 thùng giấy carton thuốc lá điếu (gồm 1.200 bao thuốc lá), bên trong có nhiều mã hàng thuốc lá của nhiều nhãn hiệu để tại cửa hàng số 75B Đ, L, N, Hải Phòng; 18 thùng giấy carton thuốc lá điếu và 01 túi nilon (gồm 2.600 bao thuốc lá), bên trong có nhiều mã hàng thuốc lá của nhiều nhãn hiệu để tại nhà của Trần Quang M ở địa chỉ: Số 7A/52 L, L, N, Hải Phòng.
Thống kê số hàng hóa của Trần Quang M mà Cơ quan Công an thu giữ, có tổng số: 430 cây thuốc lá của 18 nhãn hiệu khác nhau, mỗi 1 cây thuốc bên trong có 10 bao thuốc lá có đặc điểm giống nhau. Tổng số bao thuốc lá điếu thu giữ là: 4300 bao thuốc lá. Số thuốc lá cụ thể như sau:
1. Nhãn hiệu: ESSE Change: 12 cây
2. Nhãn hiệu: ZOUK: 67 cây
3. Nhãn hiệu: ICE RAISON Cafe: 50 cây
4. Nhãn hiệu: CANYON: 37 cây
5. Nhãn hiệu: ESSE Golden Leaf: 32 cây
6. Nhãn hiệu: ESSE Trúc: 28 cây
7. Nhãn hiệu: ESSE Light: 7 cây
8. Nhãn hiệu: ESSE Classic: 14 cây
9. Nhãn hiệu: MARLBORA đỏ: 14 cây
10. Nhãn hiệu: MOND: 28 cây
11. Nhãn hiệu: 555 Gold ( Hàn Quốc ) 26 cây.
12. Nhãn hiệu: GEORE KARELIAS AND SONS: 25 cây
13. Nhãn hiệu: ESSE Spencial Gold: 22 cây
14. Nhãn hiệu: DOUBLE HAPPINES Deluxe: 14 cây
15. Nhãn hiệu: MARLBORO Light: 9 cây
16. Nhãn hiệu: ZEST ( trắng ): 12 cây
17. Nhãn hiệu: SHUANG XI: 15 cây
18. Nhãn hiệu: RAISON Blue Cat: 18 cây.
Kết luận giám định số 28/KL-KTHS(HPL) ngày 02/8/2022 của phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tổng số 430 cây thuốc lá đã thu giữ của 18 nhãn hiệu khác nhau như đã nêu trên đều do nước ngoài sản xuất, không đủ căn cứ xác định cụ thể là do nước nào sản xuất.
Kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận N kết luận: Tổng giá trị của số thuốc lá điếu thu giữ có giá 124.560.000 đồng.
Quá trình điều tra, Trần Quang M đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Từ đầu năm 2021 đến nay, M kinh doanh buôn bán mặt hàng chè mộc, thuốc lá, thuốc lào tại cửa hàng Trần An ở địa chỉ số 75B Đ, L, N, Hải Phòng. Đối với mặt hàng thuốc lá, do thấy bán thuốc lá ngoại có lợi nhuận cao nên bên cạnh việc bán thuốc lá nội do Việt Nam sản xuất, M mua thêm thuốc lá ngoại về bán để kiếm lời. M thường mua thuốc lá ngoại từ những người đến cửa hàng Trần An tiếp thị (không quen biết). Sau khi chốt số lượng, mã hàng của mỗi loại thuốc lá ngoại xong thì người giới thiệu sản phẩm sẽ về và hẹn một vài ngày sau sẽ có nhân viên giao hàng gửi tới. Tiền hàng sẽ thanh toán bằng tiền mặt trực tiếp với người giới thiệu sản phẩm. Vào ngày 15/7/2022 đến ngày 16/7/2022, M đi thành phố Hồ Chí M chơi. Tại đây, M gặp một người đàn ông tên Hạnh (không rõ lai lịch, địa chỉ) giới thiệu, chào mời M mua thuốc lá ngoại. M đồng ý và lựa chọn 02 mã hàng thuốc lá ngoại của hãng “ZOUK” và “CANYON” với số lượng 25 cây thuốc lá trên mỗi mã hàng với số tiền nhập mua là 150.000 đồng/cây. Tổng số tiền M chốt mua là 50 cây thuốc lá ngoại là 7.500.000 đồng. Sau đó, M đưa địa chỉ nhận hàng là cừa hàng Trần An số 75B Đ, L, N, Hải Phòng. Tiền thanh toán lô hàng trên M và Hạnh thống nhất sau khi M nhận hàng thì Hạnh sẽ cho người đến lấy sau. Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 24/7/2022, khi M đang ở cửa hàng Trần An cùng với Lưu Thạch Tú (sinh 1992, trú tại: Số 7A/52 L, L, N, Hải Phòng) thì Đào Quốc Hợp (sinh 1989; trú tại: Số 5B/35/56 Phương Lưu, Vạn Mỹ, N, Hải Phòng) là nhân viên chuyển phát nhanh của Việt Nam Post, bê 01 thùng carton hàng đến giao nhận. M bảo Tú ra nhận hàng. Tú ra gặp nhân viên giao hàng, ký tên vào tờ giấy giao nhận và bê thùng hàng vào trong cửa hàng. Đúng lúc này, Công an quận N vào bắt quả tang cùng vật chứng.
Tại Cáo trạng số 154/CT-VKSNQ ngày 28/11/2022 Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Quang M về tội Buôn bán hàng cấm quy định tại điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang M khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên, phù hợp với nội dung Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, áp dụng bị cáo được phạt tiền là hình phạt chính.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt tiền đối với bị cáo Trần Quang M từ 1.500.000.000 đồng đến 1.600.000.000 đồng về tội Buôn bán hàng cấm. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 05 thùng giấy carton niêm phong số 28HPL/PC09 chứa thuốc lá. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Điều tra viên Công an quận N, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận N trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Hồi 10 giờ ngày 24/7/2022, tại cửa hàng Trần An ở địa chỉ số 75B Đ, L, N, Hải Phòng, Trần Quang M bị bắt quả tang khi đang mua bán trái phép 500 bao thuốc lá do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn, chứng từ nhập khẩu, mục đích để bán lại kiếm lời. Đồng thời, M còn cất giấu trái phép 3.800 bao thuốc lá do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn, chứng từ nhập khẩu cũng mục đích để bán lại kiếm lời. Tổng số lượng thuốc lá bị cáo M mua bán và cất giữ là 4.300 bao.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Trần Quang M phạm tội “ Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực trật tự quản lý kinh tế kinh doanh thương mại, gây mất trật tự trị an. Chính vì vậy phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm tương tự xảy ra.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Quang M không có tình tiết tăng nặng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Trần Quang M tự nguyện nộp số tiền 700.000.000 đồng đảm bảo thi hành án. Ngoài ra, bị cáo có thời gian từ năm 1978 đến năm 1992 tham gia Cến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế tại Cến trường CamphuCa. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo M yêu cầu được áp dụng phạt tiền là hình phạt chính. Xét tội phạm bị cáo thực hiện thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, bị cáo có điều kiện, khả năng thực hiện hình phạt tiền nên cần áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và thể hiện chính sách khoan hổng của Nhà nước, đảm bảo thu hồi tài sản cho Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 05 thùng giấy carton niêm phong số 28HPL/PC09 chứa thuốc lá. Đây là số thuốc lá Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với bà Trần Thị Quế, sinh 1950; trú tại: Số 84 Chợ Hàng, Đông Hải, Lê Chân, Hải Phòng là chị gái của Trần Quang M, bà Quế được M nhờ đứng tên trên giấy phép kinh doanh số 02B8019559, đăng ký lần đầu ngày 13/6/2021 tại Ủy ban nhân dân quận N với ngành nghề kinh doanh: Bia, rượu, chè, thuốc lá, bánh kẹo, nước ngọt và bà Quế cho M mượn nhà số 75B Đ, L, N, Hải Phòng để sử dụng buôn bán, kinh doanh, việc M buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu bà Quế không biết và không được hưởng lợi từ việc này nên không phạm tội.
Đối với Lưu Thạch Tú giúp M nhận hàng và Đào Quốc Hợp là nhân viên giao nhận hàng của Việt Nam Post, không biết hàng hóa này là thuốc lá điếu nhập lậu nên Cơ quan điều tra không xem xét, giải quyết.
Đối với người đàn ông tên Hạnh và một số đối tượng bán thuốc lá điếu nhập lậu cho Trần Quang M hiện chưa xác định rõ lai lịch địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác M, có căn cứ sẽ xử lý sau.
- Về án phí:
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Quang M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử: Phạt tiền bị cáo Trần Quang M 1.500.000.000 (một tỷ, năm trăm triệu) đồng về tội “Buôn bán hàng cấm”.
Trừ cho bị cáo số tiền đã nộp 700.000.000 ( bảy trăm triệu) đồng theo Biên lai số 0004083 ngày 22/12/2022 tại C cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố Hải Phòng. Buộc bị cáo M còn phải nộp tiếp số tiền 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 05 thùng giấy carton niêm phong số 28HPL/PC09 chứa thuốc lá hoàn lại sau giám định.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/12/2022 giữa Công an quận N và C cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố Hải Phòng)
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Quang M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười năm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành ánđược thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận N; - Công an quận N; - C cục THADS quận N; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam thành phố Hải Phòng; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THA hình sự Công an quận N; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài |