- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN _________ Bản án số:144/2019/HS - ST Ngày 12 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lò Văn Thương
Ông: Lò Văn Ơn
- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 151/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T. Tên gọi khác: Không; sinh năm 1973
Tại: Thái Bình.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Đội 19, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn R (Đã chết) và con bà: Hà Thị N; Vợ: Phạm Thị P và 02 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính về một hành vi nào; chưa bị kết án về một tội phạm nào; bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 21/6/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Phạm Thị P. Sinh năm 1979
Địa chỉ: Đội 19, xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 21/6/2019, Hoàng Văn T đi xe mô tô biển kiểm soát 27N1 - 03427 từ nhà đến bản L, xã T, huyện Đ để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây T gặp một người thanh niên dân tộc Thái khoảng 20 tuổi (T không biết tên và địa chỉ), T hỏi người này về việc mua hộ hồng phiến. Sau khi được người thanh niên đồng ý, T đưa cho người thanh niên số tiền 1.500.000 đồng và đứng đợi. Người thanh niên một mình đi bộ vào bản, một lúc sau quay ra đưa cho T 01 gói nilon màu trắng bên trong có 22 viên Methamphetamine (Gồm 02 viên màu xanh và 20 viên màu hồng). T cầm gói Methamphetamine đi xe máy về nhà còn người đàn ông đi đâu T không biết. Khi về đến khu vực nghĩa trang thuộc đội 16, xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, T dừng xe vào trong nghĩa trang lấy 02 viên Methamphetamine ra sử dụng. Sau đó T về nhà mở gói Methamphetamine ra lấy 02 viên màu xanh để dưới chân bàn uống nước. Số Methamphetamine còn lại T gói và cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi lấy xe máy đi uống Methadone tại trung tâm y tế xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên. Khi đến khu vực đội 06, xã Thanh Hưng thì bị tổ công tác Đồn Biên Phòng Thanh Luông phối hợp với Công an xã Thanh Hưng kiểm tra phát hiện thu giữ: Trong túi quần bên trái T đang mặc 01 gói Methamphetamine gồm 18 viên nén màu hồng.
Hồi 10 giờ 15 phút cùng ngày, tổ công tác đã T hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T. Qua khám xét thu giữ tại chân bàn uống nước 02 viên Methamphetamine màu xanh
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 21/6/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên và Kết luận giám định số: 699/GĐ - PC09 ngày 29/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã xác định số vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T là ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng 2,03 gam.
Tại bản Cáo trạng số 146/CT-VKSĐB ngày 02/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy " đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51/BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Căn cứ điểm a, điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 2,03 gam Methamphetamine (Đã trích 0,3 gam gửi giám định không hoàn lại); tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27N1 – 03427 Trả cho chị Phạm Thị P ½ giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27N1 – 03427. Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 21/6/2019, bị cáo Hoàng Văn T đã có hành vi đi mua Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi bị cáo đang tàng trữ trên người và tại nơi ở của mình đã bị tổ công tác Đồn Biên Phòng Thanh Luông phối hợp với Công an xã Thanh Hưng phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ là 2,03 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đơn giản, chỉ do nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích nào khác. Tuy nhiên, hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn trong xã hội.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo sinh ra và lớn lên tại T, năm 1979 cùng gia đình chuyển đến xã T, huyện Đ sinh sống. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, vợ bị cáo thường xuyên ốm đau không có khả năng lao động, con còn nhỏ, chưa có việc làm, hiện tại bị cáo là người lao động duy nhất trong gia đình có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại Điểm s Khoản 1 khoản 2 Điều 51/BLHS.
Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo là hình phạt tù có thời hạn để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thu nhập chính từ làm ruộng và đi làm thuê nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã xuất trình những chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vật chứng:
Gồm 2,03 gam Methamphetamine (Đã trích 0,3 gam gửi giám định không hoàn lại) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 27N1 – 03427 mang tên Hoàng Văn T, bị cáo đã dùng chiếc xe này làm phương tiện để đi mua ma túy nên cần bị tịch thu sung quỹ nhà nước. Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa bị cáo và chị Phạm Thị P đều thừa nhận chiếc xe mô tô nêu trên là tài sản chung của vợ chồng, việc bị cáo dùng xe đi mua ma túy chị P không biết nên Hội đồng xét xử tịch thu 1/2 giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27N1 – 03427 để sung ngân sách nhà nước và trả lại cho chị Phạm Thị P 1/2 giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27N1 – 03427 tại thời điểm bán đấu giá. Theo quy định tại Điều 213/BLDS; Khoản 1 Điều 33, Khoản 4 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS;
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo nhờ người thanh niên dân tộc Thái, bị cáo không biết tên và địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra làm rõ được. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 21/6/2019.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47/BLHS; điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Điều 213/BLDS; Khoản 1 Điều 33, Khoản 4 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Tịch thu tiêu huỷ 2,03 gam Methamphetamine (Đã trích 0,3 gam gửi giám định không hoàn lại)
- Tịch thu 1/2 giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE HONDA biển kiểm soát 27N1 – 03427 Số máy: JC52E5348797, số khung: RLHJ5225CY794507 tại thời điểm bán đấu giá để nộp ngân sách nhà nước và trả lại cho chị Phạm Thị P 1/2 giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27N1 – 03427 tại thời điểm bán đấu giá.
Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 05/8/2019.
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/9/2019).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Điện Biên; - Bộ phận HSNV CA H.Điện Biên; - Công an huyện Điện Biên; - Nhà tạm giữ; - Bị cáo; người có QLNVLQ; - Chi cục T.H.A Dân sự H. Điện Biên; - Sở Tư pháp; - T.H.A HS; Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Thùy Dƣơng |