- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàng T - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Trần Hoàng T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 25 – 11 – 2024.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 142/2025/HSST. Ngày 29 - 10 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà: Trần Thị Tuyết Phương
2/ Ông: Nguyễn Văn Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 10 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Thái H, tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh năm 2004 tại tỉnh Lâm Đồng. Căn cước công dân số: 068204008970. Nơi đăng ký thường trú: Tổ C, thôn A, xã H (xã L, huyện Đ cũ), tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định. Nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn N và con bà Đặng Thùy L, chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Trần Hoàng T; giới tính: nam; sinh năm: 2004 tại tỉnh Lâm Đồng. Căn cước công dân số: 068204011317. Nơi đăng ký thường trú: Tổ C, thôn A, xã H (xã L, huyện Đ cũ), tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: không có nơi cư trú ổn định. Nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Quang T1 và con bà Hoàng Thị Mai T2, chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 17/11/2024, Tổ 363 Công an quận B kiểm tra hành chính Trần Hoàng T và Nguyễn Thái H đang đứng cạnh xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu sơn đen, biển số: 49AD-103.07 tại trước số G đường B, Phường B, quận B tiến hành xét nghiệm ma túy thì T và H dương tính với ma túy THC (cần sa). Tại Công an phường, qua kiểm tra phát hiện H còn cất giấu 01 gói nilon chứa thảo mộc là cần sa trong chiếc bóp màu đen, để trong túi quần phía trước bên trái; 01 cây kéo dài khoảng 20cm (cán nhựa đen, lưỡi kim loại), 01 loa B cầm tay, 01 hộp giấy cuốn thuốc lá.
Tại Kết luận giám định số: 13769/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: gói nylon chứa thảo mộc thu giữ của H có khối lượng 0,2447g là Cần sa.
Tại Cơ quan điều tra, H và T thừa nhận hành vi góp tiền mua mua cần sa để sử dụng chung như sau:
Vào trưa ngày 12/11/2024, T gọi điện thoại cho H rủ H sử dụng cần sa, H đồng ý. T kêu H lên mạng mua cần sa để sử dụng chung. Hiệu có nói giá 01 gram là 170.000 đồng và nói với T là mua 02 gram người ta mới giao và tiền ship là 60.000 đồng, H sẽ bỏ thêm số tiền 230.000 đồng để mua 02 gram mỗi người 01 gram cần sa, T chuyển cho Hiệu số tiền 170.000 đồng, tổng cộng cả hai là 400.000 đồng. Hiệu đã liên hệ với Nguyễn Văn T3 để mua 02 gram cần sa, H chuyển từ tài khoản ngân hàng của H vào số tài khoản 19036047670018 mở tại ngân hàng T4 của Nguyễn Văn T3 và được T3 ship cần sa cho H. Sau khi mua được cần sa, tối cùng ngày Hiệu qua nhà T đang ở để đón T đi uống cà phê bờ kè Lô 8, Cư xá T, Phường B, quận B để sử dụng cần sa. Khi đến quán cà phê, H chia cho T 01 gram, T lấy bỏ túi, còn lại 01 gram cần sa của H thì lấy ra sử dụng chung. H và T dùng kéo mà H đem theo thay phiên nhau cắt nhỏ cần sa, sau đó T lấy 02 điếu thuốc lá móc ruột ra khoảng 1/3 điếu thuốc rồi nhét cần sa vào lại cho đầy, rồi T dùng bật lửa mồi hút. Sau khi T hút một hơi thì chuyển điếu thuốc có cần sa qua cho H hút, 02 người chuyền tay thay phiên nhau hút cho đến khi hết hai điếu thuốc, cần sa còn lại H bỏ vào túi ny lon bỏ túi đem về để hôm khác sử dụng. Đến ngày 16/11/2024 H tiếp tục qua nhà đón T đi uống cà phê đồng thời sử dụng cần sa, lần này T mang theo cần sa mà H mua hôm trước để sử dụng, vẫn cách thức sử dụng như lần trước, lần này thì Thiện nhét hết số cần sa (01 gram) mang theo vào 02 điếu thuốc và T, H đã sử dụng hết. Đến ngày 17/11/2024, H mang theo số cần sa còn lại của H qua chở T đi uống cà phê tại bờ kè Lô 8, Cư xá T, Phường B, quận B, để sử dụng cần sa tiếp. Đang trên đường đi thì T và H bị Công an P, quận B kiểm tra thu giữ như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu iphone 13promax số seri J403GFHHQ9, Sim số 0911075067, của Nguyễn Thái H sử dụng để liên hệ mua cần sa.
- 01 ví da màu đen, của Nguyễn Thái H, sử dụng cất giữ gói nilon chứa cần sa.
- 01 gói nilon chứa thảo mộc, qua giám định là cần sa, có khối lượng 0,2447g.
- 01 cây kéo dài khoảng 20cm (cán nhựa đen, lưỡi kim loại) dùng để cắt cần sa sử dụng.
- 01 loa Bluetooth cầm tay, 01 hộp giấy cuốn thuốc lá sử dụng sau khi hút thuốc cần sa.
- 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 màu xanh số seri: C6KZT2VLM72P Số sim: 0367205132, của Trần Hoàng T, dùng để trao đổi thông tin với H mua và sử dụng cần sa.
- 01 xe mô tô biển số 49AD-103.07 của Nguyễn Thái H đăng ký sử dụng, là xe Hiệu điều khiển và cất giấu dụng cụ sử dụng ma túy cần sa và dùng điều khiển mục đích chở Trần Hoàng T đi tìm chỗ sử dụng ma túy cần sa.
Ngày 18/11/2024, Cơ quan điều tra Công an quận B tiến hành khám xét Căn hộ B05-08 chung cư 1050, số D P, Phường A, quận B là nơi ở của Nguyễn Minh K (anh rể của T, là người cho T ở cùng) có các đồ vật sau:
- 01 hộp giấy màu đen bên trong có:
+ 01 cối xay bằng kim loại màu đen bên trong chứa vụn thảo mộc;
+ 01 cối xay bằng nhựa màu cam bên trong chứa vụn thảo mộc;
+ 01 cối xay bằng gỗ màu vàng bên trong chứa vụn thảo mộc;
+ 01 bật lửa.
- 01 hộp kim loại màu xanh bên trong có 01 cuộn giấy cuốn.
+ 01 cối xay bằng kim loại màu đen bên trong dính vụn thảo mộc;
+ 01 gói nilon bên trong chứa thảo mộc;
+ 01 tẩu hút bằng kim loại màu vàng;
+ 01 tẩu hút bằng nhựa và 01 đoạn thủy tinh.
Đối tượng K khai nhận: 04 cối xay, 02 tẩu hút (trong đó có một loại tẩu gồm phần tẩu và ống hút bằng thủy tinh; loại còn lại không có ống hút), 01 bật lửa là dụng cụ K dùng vào việc sử dụng ma túy cần sa; thảo mộc là ma túy cần sa. Nguồn gốc số cần sa trên là do K mua của 01 đối tượng không rõ lai lịch trên mạng. K mua về để sử dụng một mình, không ai biết.
Qua giám định tại Phòng K1 Công an Thành phố H cho kết quả thảo mộc khô là cần sa, khối lượng: 0,4393g.
Bản cáo trạng số 01/CT-VKSBTh ngày 30 tháng 09 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Hoàng T và Nguyễn Thái H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Trần Hoàng T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Hoàng T và Nguyễn Thái H đã thừa nhận:
Ngày 12/11/2024 và ngày 16/11/2024, Trần Hoàng T và Nguyễn Thái H có hành vi tổ chức sử dụng trái phép ma túy cần sa 02 lần tại quán cà phê tại bờ kè Lô H, Cư xá T, Phường B, quận B. T là người rủ H góp tiền để mua cần sa về sử dụng, còn H liên hệ đặt mua cần sa sử dụng chung với nhau. Cả 02 lần sử dụng cần sa, T và H đều có cách thức sử dụng cần sa giống nhau, T là người cắt nhỏ cần sa, cung cấp điếu thuốc để nhét cần sa vào cho cả hai sử dụng. Hiệu mang theo kéo để cắt cần sa, là người cất giữ cần sa thừa để lần sau T và H sử dụng tiếp.
Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Hoàng T và Nguyễn Thái H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.
3 Bằng ý thức của mình, các bị cáo biết rõ đây là loại biệt dược gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý vì chúng có tính gây nghiện mạnh, hủy hoại sức khỏe và khả năng lao động, làm cho thần kinh của người nghiện bị tổn hại dẫn đến rối loạn hành vi, dẫn tới suy yếu nòi giống, là nguồn gốc và điều kiện phát sinh lan truyền các căn bệnh nguy hiểm, nhất là đại dịch HIV/AIDS. Do đó, Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy, nhưng các bị cáo vẫn cố tình tổ chức sử dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của cá nhân.
Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, bởi lẽ các bị cáo nhận thức rất rõ hành vi của mình là hoàn toàn trái với pháp luật và sẽ bị luật pháp cấm đoán và trừng trị nghiêm khắc; các bị cáo biết là sai mà vẫn làm là coi thường, thách thức luật pháp của Nhà nước nhằm thỏa mãn động cơ tư lợi cá nhân và sử dụng cho bản thân, nên Hội đồng xét xử thấy cần có một hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm giáo dục các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trên địa bàn.
4 Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Trần Hoàng T và Nguyễn Thái H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Hội đồng xét xử miễn phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 ví da màu đen của Nguyễn Thái H, sử dụng cất giữ gói nilon chứa cần sa; 01 gói nilon chứa thảo mộc, qua giám định là cần sa, có khối lượng 0,2447g; 01 cây kéo dài khoảng 20cm (cán nhựa đen, lưỡi kim loại) dùng để cắt cần sa sử dụng; 01 hộp giấy màu đen bên trong có: 01 cối xay bằng kim loại màu đen bên trong chứa vụn thảo mộc; 01 cối xay bằng nhựa màu cam bên trong chứa vụn thảo mộc; 01 cối xay bằng gỗ màu vàng bên trong chứa vụn thảo mộc; 01 bật lửa; 01 hộp kim loại màu xanh bên trong có: 01 cuộn giấy cuốn; 01 cối xay bằng kim loại màu đen bên trong dính vụn thảo mộc; 01 gói nilon bên trong chứa thảo mộc; 01 tẩu hút bằng kim loại màu vàng; 01 tẩu hút bằng nhựa và 01 đoạn thủy tinh; 01 loa Bluetooth cầm tay, 01 hộp giấy cuốn thuốc lá sử dụng sau khi hút thuốc cần sa. Đây là chất ma túy và dụng cụ các bị cáo sử dụng mua bán ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu iphone 13promax số seri J403GFHHQ9, Sim số 0911075067, của Nguyễn Thái H sử dụng để liên hệ mua cần sa; 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 màu xanh số seri: C6KZT2VLM72P Số sim: 0367205132, của Trần Hoàng T, dùng để trao đổi thông tin với H mua và sử dụng cần sa; 01 xe mô tô biển số 49AD-103.07 của Nguyễn Thái H đăng ký sử dụng, là xe Hiệu điều khiển và cất giấu dụng cụ sử dụng ma túy cần sa và chở Trần Hoàng T đi tìm chỗ sử dụng ma túy cần sa. Đây là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc, thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với Nguyễn Văn T3 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định tách hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của Nguyễn Văn T3 và chuyển toàn bộ tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H theo vụ án đang điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T.
Đối với hành vi của Nguyễn Thái H tàng trữ số ma túy qua giám định kết luận là cần sa với khối lượng là 0,2447g chưa đủ căn cứ xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra đã thông báo và Ủy ban nhân dân Phường B1, quận B đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 07/QĐ-XPHC ngày 20/5/2025 đối với Nguyễn Thái H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm a Khoản 2, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
Đối với đối tượng Nguyễn Minh K có hành vi tàng trữ các dụng cụ sử dụng ma túy, tuy nhiên các bộ dụng cụ đều là những dụng cụ riêng lẻ để sử dụng ma túy, trên cơ sở kết luận của V, Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận không đủ cơ sở để xác định số dụng cụ trên là “Dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, do đó không đủ cơ sở để xử lý đối tượng Nguyễn Minh K về hành vi “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Đối với hành vi của Nguyễn Minh K tàng trữ số ma túy qua giám định kết luận là cần sa với khối lượng là 0,4393g chưa đủ căn cứ xử lý hình sự. Đối tượng K đã bị Cơ quan Công an xử phạt hành chính và đưa vào Cơ sở cai nghiện.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 255; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025;
Xử phạt: bị cáo Trần Hoàng T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 25 – 11 – 2024.
2. Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 255; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thái H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 25 – 11 – 2024.
3. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 ví da màu đen; 01 gói niêm phong màu đen, bên ngoài có ký hiệu 4358/24, chữ ký của giám định viên và điều tra viên, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định: Thảo mộc khô có khối lượng 0,0680g; 01 cây kéo dài khoảng 20cm; 01 hộp giấy cuốn thuốc lá.
- Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu iphone 13promax; 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 màu xanh; 01 loa Bluetooth cầm tay; 01 xe mô tô BKS: 49AD-103.07; Loại xe: hai bánh từ 50-175 cm3: Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: AIR BLADE; Màu sơn: Đen xám; số máy: KF53E008529; Số khung: RLHKF5300PZ011201; Dung tích xi lanh: 156,9 cm3.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: mỗi bị cáo Trần Hoàng T, Nguyễn Thái H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Trần Hoàng T và Nguyễn Thái H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - VKSND khu vực 5, Tp.HCM; - Công an Tp.HCM; - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân trại tạm giam khu vực Bình Thạnh; - Phòng THADS khu vực 5, TP.HCM; - UBND Phường/xã nơi bị cáo cư trú; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Mười |