vanban.org

Bản án 142/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 22/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T, X và S.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 40/2021/HS-ST ngày 20-5-2021 của Tòa án nhân dân huyện B, t nh Tây Ninh. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T (tên gọi khác: T A) 09 (chín) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án và đ ợc trừ thời gian bị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự phúc thẩm thụ lý số: 121/2021/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo Huỳnh Thanh T và đồng phạm; do có kháng cáo của các b…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T, X và S.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2021/HS-PT
Ngày: 22-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tâm;

Bà Phạm Thị Thang Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Công Hậu - Th k Tòa án nhân dân t nh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc V ơng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 121/2021/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo Huỳnh Thanh T và đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Thanh T, Tô Ngọc X và Trần Văn S đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 40/2021/HS-ST ngày 20-5-2021 của Tòa án nhân dân huyện B, t nh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Huỳnh Thanh T (tên gọi khác: T A), sinh năm 1985 tại t nh Tây Ninh; c trú tại: Khu phố 4, thị trấn B, huyện B, t nh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1960 và bà Huỳnh Thị R, sinh năm 1963; bị cáo chung sống không đăng k kết hôn với chị Thái Thị L, sinh năm 1984 và có 02 ng ời con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án số: 61/2006/HS-ST ngày 11-8-2006, bị Tòa án nhân dân huyện B, t nh Tây Ninh xử phạt 09 (chín) tháng tù cho h ởng án treo, thời gian thử thách 18 (m ời tám) tháng, về tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy”, đã chấp hành xong hình phạt và đ ợc xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ ngày 31-8-2020, chuyển tạm giam ngày 09-9-2020, đến ngày 27-01-2021 đ ợc trả tự do và bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi c trú từ ngày 10-3-2021 cho đến nay; có mặt.

2. Tô Ngọc X, sinh năm 1985 tại t nh Tây Ninh; c trú tại: Ấp Hòa Đ A, xã Hòa H, huyện B, t nh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn D, sinh năm 1955 và bà Võ Thị L, sinh năm 1961; có vợ tên Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1994 và 02 ng ời con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 402/QĐ-XPVPHC ngày 15-6-2020, bị Công an xã Thanh P1, huyện GD, t nh Tây Ninh xử phạt số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền”, ch a hết thời hạn đ ợc xem là ch a bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15-12-2020, đến ngày 09-02-2021 đ ợc thay thế biện pháp Tạm giam sang Bảo lĩnh, từ ngày 10-3-2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi c trú cho đến nay; có mặt.

3. Trần Văn S, sinh năm 1974 tại t nh Tây Ninh; c trú tại: Ấp Thạnh Q, xã Thạnh Đ, huyện TC, t nh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N, sinh năm 1943 và bà Đinh Thị N (đã chết); có vợ tên Lê Thị M, sinh năm 1975 và có 03 ng ời con; tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án số: 14/2006/HS-ST ngày 04-01-2006, bị Tòa án nhân dân huyện TC, t nh Tây Ninh xử phạt 12 (m ời hai) tháng tù cho h ởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai m ơi bốn) tháng về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung 7.000.000 (bảy triệu) đồng và buộc nộp 50.000 (năm m ơi nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung nh ng ch a nộp 50.000 đồng án phí; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi c trú từ ngày 09-10-2020 cho đến nay; có mặt.

Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Huỳnh Thanh T tổ chức sòng bạc cho các con bạc tham gia bằng hình thức đá gà, thắng thua bằng tiền, tại v ờn cao su thuộc khu vực thị trấn B, huyện B, t nh Tây Ninh. Hàng ngày, T tìm và lựa chọn địa điểm tại các v ờn cao su có vị trí thuận lợi cho việc tổ chức đánh bạc, rồi điện thoại rủ các chủ gà đến tham gia đánh bạc; đồng thời quy định mỗi cặp gà đá với nhau thì mỗi chủ gà phải trả cho T số tiền là 50.000 đồng. Để sòng bạc hoạt động, T thuê Trần Văn N quét dọn tại địa điểm tổ chức sòng bạc và mang n ớc đến cho các chủ gà tắm gà. Mỗi ngày, T trả cho N số tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Trong ngày 27-8-2020, T và N đã tổ chức cho các cặp gà, cụ thể nh sau:

- Cặp thứ 1: Gà chuối có trọng l ợng 1,4 kg của Nguyễn Văn H (TG) đá với gà điều có trọng l ợng 1,32 kg của Vũ Minh P (MĐ), sinh năm 1991, ngụ khu phố 5, thị trấn B, huyện B. Cặp gà này hai chủ gà đá xổ 1.000.000 đồng, trong đó gà của H đá chấp gà của P t lệ tiền là 10 ăn 7. Kết quả là gà của H thắng, T nhận 700.000 đồng từ P rồi đ a cho H và nhận tiền trọng tài từ H là 50.000 đồng, còn P không đ a do hết tiền.

- Cặp thứ 2: Gà khét có trọng l ợng 1,1 kg của Trình Văn D, sinh năm 1984, ngụ ấp Thạnh P1, xã Thạnh B, huyện B đá với gà trắng có trọng l ợng 1,1 kg của T “B C” (ch a rõ nhân thân, l lịch). Cặp gà này hai chủ gà đá xổ 1.000.000 đồng và đá đồng nên tổng số tiền dùng để đánh bạc là 2.000.000 đồng. Trong đó, D hùn với Lê Văn M, sinh năm 1990, ngụ ấp Thạnh S, xã Thạnh T, huyện B mỗi ng ời 500.000 đồng để đá xổ. Kết quả gà của D thắng, T nhận 1.000.000 đồng tiền thắng từ T1 rồi đ a cho D. T nhận tiền trọng tài cặp gà này là 100.000 đồng gồm D là 50.000 đồng và T1 là 50.000 đồng.

- Cặp thứ 3: Gà điều có trọng l ợng 1,4 kg của Trình Văn D đá với gà que có trọng l ợng 1,2 kg của Nguyễn Hữu P1 (C). Cặp gà này hai chủ gà đá xổ với nhau 1.000.000 đồng, gà của D chấp gà của P1 một cựa. D hùn với Lê Văn M mỗi ng ời 500.000 đồng để đá xổ. Kết quả gà của P1 thắng, T nhận 1.000.000 đồng tiền đá xổ từ D rồi đ a cho P1. T nhận tiền trọng tài cặp gà này là 50.000 đồng từ P1 còn D không đ a tiền trọng tài.

Trong cặp gà này có 02 ng ời tham gia đá hàng sáo gồm: Tr ơng Văn V, sinh năm 1969, ngụ khu phố 5, thị trấn B, huyện B bắt gà D đá với một ng ời đàn ông (ch a rõ nhân thân, l lịch) thông qua T với số tiền 200.000 đồng, t lệ là 10 ăn 7,5. Kết quả, gà của V bắt đá thua nên V đã trả 200.000 đồng cho ng ời thắng.

- Cặp thứ 4: Gà khét có trọng l ợng 1,1 kg của Trình Văn D đá với gà que có trọng l ợng 1,2 kg của Nguyễn Văn S1, sinh năm 1972, ngụ ấp Thạnh TG, xã Thạnh T, huyện B. Cặp gà này hai chủ gà đá xổ với số tiền 2.000.000 đồng, gà của D băng 02 cựa d ới còn gà của S1 băng 02 cựa trên và gà của D đá chấp số tiền với t lệ 10 ăn 8. D hùn với Lê Văn M mỗi ng ời 1.000.000 đồng để đá xổ. Gà của D do D tự băng cựa và thả gà còn gà của S1 do Nguyễn Hữu P1 băng cựa và thả gà. Kết quả gà của D thắng, T nhận 1.600.000 đồng từ S1 rồi đ a D. T nhận tiền trọng tài tổng cộng là 150.000 đồng, từ D là 100.000 đồng và S1 là 50.000 đồng.

Trong cặp gà này có những ng ời tham gia đá hàng sáo gồm:

+ Trần Hữu T1, sinh năm 1976, ngụ khu phố 3, thị trấn B, huyện B bắt gà khét của D đá với một ng ời đàn ông (ch a rõ nhân thân, l lịch) với số tiền 200.000 đồng, t lệ là 200.000 đồng ăn 120.000 đồng. Kết quả gà của T1 thắng và nhận 120.000 đồng từ ng ời thua.

+ Nguyễn Thanh P2, sinh năm 1969, ngụ ấp Tân H, xã Tân L, huyện B bắt gà khét của D đá với một ng ời đàn ông (ch a rõ nhân thân, l lịch) với số tiền 200.000 đồng, t lệ là 200.000 đồng ăn 150.000 đồng. Kết quả gà của P2 thắng và nhận 150.000 đồng từ ng ời thua.

+ Thái Bảo T2, sinh năm 1987, ngụ ấp Tân T3, xã Tân L, huyện B bắt gà que của S1 đá đồng với một ng ời đàn ông (ch a rõ nhân thân, l lịch) với số tiền 200.000 đồng. Kết quả gà của T2 thua nên T2 chung 200.000 đồng cho ng ời thắng.

+ Phạm Văn P3, sinh năm 1996, ngụ khu phố 4, thị trấn B, huyện B, t nh Tây Ninh bắt gà khét của D đá với một ng ời đàn ông (ch a rõ nhân thân, l lịch) với số tiền 200.000 đồng, t lệ là 200.000 đồng ăn 150.000 đồng. Kết quả gà của P3 thắng và đã nhận 150.000 đồng từ ng ời thua.

- Cặp thứ 5: Gà que có trọng l ợng 0,9 kg của Nguyễn Văn L do Trần M Q hẹn với T đá với gà điều có trọng l ợng 0,93 kg của Lê Quốc D1 và Tô Ngọc X do X hẹn với T. Cặp gà này hai bên chủ gà đá xổ với nhau với số tiền 5.000.000 đồng, gà của D1 cân nặng hơn nên đá chấp tiền với t lệ 10 ăn 8. D1 hùn với X mỗi ng ời bỏ ra số tiền 2.500.000 đồng để đá, còn phía gà của L thì L bỏ ra 1.250.000 đồng, Phan Trần Trung T3 bỏ ra 1.000.000 đồng, Huỳnh Duy T4 bỏ ra 500.000 đồng, Trần Văn S bỏ ra 1.000.000 đồng, Trần Đ Q bỏ ra 750.000 đồng, Lê Quang L1 hùn qua điện thoại với L số tiền 500.000 đồng để hùn với nhau với tổng số tiền là 5.000.000 đồng đá xổ. Gà của L do T3 băng cựa và thả gà còn phía gà của D1 do Nguyễn Văn H băng cựa và thả gà. Cặp gà này đang đá thì bị bắt ch a có kết quả thắng thua.

Trong cặp gà này có những ng ời tham gia đá hàng sáo gồm:

+ Trần Minh D2, sinh năm 1984, ngụ ấp Xóm T, xã Tân P2, huyện B bắt gà điều của bị can D1 và X đá với một ng ời đàn ông (ch a rõ nhân thân, l lịch) với số tiền 200.000 đồng, t lệ là 120.000 đồng ăn 200.000 đồng.

+ Huỳnh Duy T4 bắt gà que của bị can L đá với một ng ời đàn ông (ch a rõ nhân thân, lý lịch) với số tiền 2.000.000 đồng, t lệ là 8 ăn 10 do gà của bị can T4 bắt nhẹ hơn.

+ Huỳnh Duy T4 bắt gà que của bị can L đá với Nguyễn Văn H (TG) với số tiền 2.000.000 đồng, t lệ tiền cá c ợc là 8 ăn 10, nếu thắng thì T4 nhận đủ 2.000.000 đồng, thua thì chung 1.600.000 đồng.

+ Trần Ngọc P4, sinh năm 1984, ngụ khu phố 5, thị trấn B, huyện B bắt gà que của L đá với một ng ời đàn ông (ch a rõ nhân thân, lý lịch) với số tiền 200.000 đồng, t lệ là 120.000 đồng ăn 200.000 đồng.

+ Nguyễn Văn L2, sinh năm 1983, ngụ ấp Thạnh P3, xã Thạnh B, huyện B, t nh Tây Ninh bắt gà que của L đá với một ng ời đàn ông (ch a rõ nhân thân, l lịch) với số tiền 100.000 đồng, t lệ là 80.000 đồng ăn 100.000 đồng.

Do đó, tổng số tiền dùng để đánh bạc ở cặp gà này là 17.020.000 đồng.

- Cặp thứ 6: Gà cao lãnh màu điều có trọng l ợng 02 kg của Trần Minh D2 đá với gà cao lãnh màu vàng có trọng l ợng 02 kg của Nguyễn Văn M1, sinh năm 1986, ngụ ấp Thạnh TG, xã Thạnh T, huyện B. Cặp gà này hai chủ gà đá xổ đồng gà với số tiền 700.000 đồng. Gà của D2 do Nguyễn Văn V1, sinh năm 1991, ngụ ấp Xóm T, xã Tân P2, huyện B hẹn. Nguyễn Hữu T5, sinh năm 1980, ngụ ấp GĐ, xã MC, huyện B là ng ời ôm gà cho Nguyễn Văn V1 băng cựa còn gà của M1 do M1 tự băng cựa. Cặp gà này chờ cặp gà thứ 5 đá xong sẽ tiến hành đá, khi đang đợi thì bị bắt.

Trong quá trình điều tra xác định L Văn T6, sinh năm 1989, ngụ khu phố 6, thị trấn B, huyện B có tham gia đá hàng sáo ăn tiền tại tr ờng gà của T cách lúc bị bắt khoảng 01 tuần, T6 thua 250.000 đồng.

Ngoài ra, T và N còn khai nhận những ngày tr ớc đó đã tổ chức cho ng ời khác đánh bạc nh ng không nhớ những ng ời tham gia đánh bạc và không nhớ số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc nên không đủ cơ sở xử lý.

Khi sòng bạc bị bắt quả tang thì Huỳnh Thanh T chạy thoát, nh ng sau đó đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Huỳnh Thanh T, Trần Văn N, Trần Văn S, Huỳnh Duy T4, Lê Quốc D1, Tô Ngọc X, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn L, Phan Trần Trung T3, Trần Đ Q, Lê Quang L1, Trần M Q, Nguyễn Hữu P1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Đối với hành vi đánh bạc của Vũ Minh P, Trình Văn D, Lê Văn M, Tr ơng Văn V, Nguyễn Văn S1, Trần Hữu T1, Nguyễn Thanh P2, Thái Bảo T2, Phạm Văn P3, Trần Minh D2, Trần Ngọc P4, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn V1, Nguyễn Hữu T5, L Văn T6 có hành vi đánh bạc ăn tiền nh ng số tiền đánh bạc ở từng cặp gà của các đối t ợng d ới 5.000.000 đồng không cấu thành tội phạm, ch là vi phạm hành chính nên Công an huyện B, t nh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với ng ời có tên T “B C” và những ng ời đàn ông (ch a xác định đ ợc nhân thân, lý lịch) có tham gia chơi đá gà ăn tiền nh ng hiện tại ch a xác định đ ợc nhân thân, lý lịch nên ch a có cơ sở để xử l , khi nào xác định đ ợc sẽ xử lý sau.

Về kê biên tài sản: Lê Quốc D1 và Trần Văn S có tài sản là quyền sử dụng đất nh ng đang thế chấp nên không tiến hành kê biên.

Bản án Hình sự sơ thẩm số: 40/2021/HS-ST ngày 20-5-2021 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh đã xử:

1. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T (tên gọi khác: T A) 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án và đ ợc trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31-8-2020 đến ngày 27-01-2021.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Tô Ngọc X 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án và đ ợc trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 15-12-2020 đến ngày 09-02-2021.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn S 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử l vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 25-5-2021, bị cáo Tô Ngọc X kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đ ợc h ởng án treo.

Ngày 26-5-2021, bị cáo Huỳnh Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đ ợc h ởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Ngày 31-5-2021, bị cáo Trần Văn S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đ ợc h ởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:

Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của ng ời tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm, phúc thẩm đều đ ợc thực hiện đúng với trình tự tố tụng theo luật định, hợp pháp.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo X xin giảm nhẹ hình phạt, xin đ ợc h ởng án treo để lo cho con và cha mẹ già.

Bị cáo S xin giảm nhẹ hình phạt, xin đ ợc h ởng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc án treo để có thời gian phụ giúp gia đình.

Bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt, xin đ ợc h ởng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc án treo để có thời gian lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của ng ời tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Huỳnh Thanh T, X và S xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm không có kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ng ời tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Huỳnh Thanh T, X và S khai nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận:

Vào ngày 27-8-2020, tại v ờn cao su ở thị trấn B, huyện B, t nh Tây Ninh, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện B đã bắt quả tang bị cáo Huỳnh Thanh T rủ rê, lôi kéo, tụ tập nhiều đối t ợng tham đánh bạc, d ới hình thức đá gà, thắng thua bằng tiền; cụ thể nh sau: T đã tổ chức 06 trận, với tổng số tiền là 28.090.000 đồng, bao gồm đá chính và đá hàng sáo. Trong đó, ở cặp gà thứ 05, các bị cáo Lê Quốc D1, X, Nguyễn Văn L, Phan Trần Trung T3, Huỳnh Duy T4, S, Trần Đ Q, Lê Quang L1 đã tham gia đặt c ợc với tổng số tiền 9.000.000 đồng; riêng bị cáo Nguyễn Văn H, Trần M Q giúp sức hẹn gà và băng cựa. Để sòng bạc hoạt động, bị cáo T đã thuê bị cáo Trần Văn N quét dọn địa điểm tổ chức sòng bạc và mang n ớc tắm gà, với số tiền trả công hàng ngày từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; bị cáo X, S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo:

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của 03 bị cáo, nh sau:

+ Các bị cáo Huỳnh Thanh T, X không có tình tiết tăng nặng, riêng bị cáo S có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, ch a đ ợc xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo S là có căn cứ.

+ Về tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đ ợc áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra, bị cáo X có cha ruột - ông Tô Văn Duyên là ng ời có công với cách mạng, đ ợc tặng th ởng Huy ch ơng kháng chiến hạng Nhất; bị cáo Huỳnh Thanh T đầu thú hành vi phạm tội vào ngày 31-8-2020; nên đ ợc xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đ ợc h ởng án treo nh ng không cung cấp đ ợc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Đồng thời, các bị cáo thuộc những tr ờng hợp sau:

+ Bị cáo T phạm tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” vào năm 2006, đã xóa án tích nh ng phạm tội “Tổ chức đánh bạc” thuộc tr ờng hợp nghiêm trọng và giữ vai trò chủ m u, cầm đầu; bị cáo X có một tiền sự về hành vi “Đánh bạc trái phép…”, ch a hết thời hạn đ ợc xem là ch a bị xử l vi phạm hành chính mà phạm tội nên hai bị cáo không có nhân thân tốt để đ ợc h ởng án treo theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

+ Bị cáo S phạm tội thuộc tr ờng hợp tái phạm nên không đ ợc h ởng án treo theo quy định tại khoản 6 Điều 3 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Thanh T, X và S; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do kháng cáo không đ ợc chấp nhận nên bị cáo T, X, S phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T, X và S.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 40/2021/HS-ST ngày 20-5-2021 của Tòa án nhân dân huyện B, t nh Tây Ninh.

1. Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T (tên gọi khác: T A) 09 (chín) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án và đ ợc trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31-8-2020 đến ngày 27-01-2021.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo X 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án và đ ợc trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 15-12-2020 đến ngày 09-02-2021.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo S 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

4. Về án phí: Các bị cáo Huỳnh Thanh T, Tô Ngọc X và Trần Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ