vanban.org

Bản án 141/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 21/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố bị can Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C và Phạm Thị Th ra trước Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền để xét xử về tội Tổ chức đánh bạc, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Truy tố bị can Lê Thị M ra trước Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền để xét xử về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Kèm theo Cáo trạng có: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Truy tố bị can Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C và Phạm Thị Th ra trước Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền để xét xử về tội Tổ chức đánh bạc, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2022/HS-ST
Ngày 21-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thao

Ông Vũ Văn Khang

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thành Đạt và bà Nguyễn Thúy Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 169/2022/QĐST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:

1/ Đặng Thị L, sinh ngày 06/7/1985 tại thành phố H; Nơi ĐKTT: Tân Hợp, huyện T, quận D, thành phố H; hiện ở: Số 27/671 H 3, phường Đ 2, quận H, thành phố H; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Đặng Quang T và bà Bùi Thị H; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có chồng là Ngô Minh Đ và có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Án số 10/2015/HSST ngày 03/4/2015, Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, 30 tháng thử thách về tội “Gá bạc” (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ ngày 07/5/2022, đến ngày 14/5/2022 thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

2/ Trần T, sinh ngày 24/02/1990 tại thành phố H; ĐKHTT: Số 218 đường Ng, phường N, quận L, thành phố H; Chỗ ở: Tổ 14, phường L, quận K, thành phố H; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Trần Văn M và bà Phan Thị Ph; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ là Phạm Thị Ch và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Án số 70/2012/HSST ngày 17/5/2012, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, 35 tháng 16 ngày thử thách về tội “Cố ý gây thương tích” (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ ngày 21/3/2022, đến ngày 29/3/2022 thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

3/ Kim Văn C, sinh ngày 16/4/1991 tại thành phố H; nơi cư trú: Số 5/117 đường K, phường Đ 2, quận H, thành phố H; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Kim Văn S và bà Trần Thi Ng; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ là Trịnh M A, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 21/3/2022, đến ngày 29/3/2022 thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

4/ Phạm Thị Th, sinh ngày 14/6/1983 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn Tr, xã Đ, huyện T, thành phố H; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phạm Văn L và bà Hoàng Thị O; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có chồng là Đỗ Mạnh Tr, sinh năm 1981 và có 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 21/3/2022, đến ngày 29/3/2022 thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

5/ Lê Thị M, sinh ngày 27/02/1987 tại thành phố H; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Tiên C, huyện T, thành phố H; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Lê Văn M và bà Quách Thị T; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có chồng là Ngô Văn Th, sinh năm 1986 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 21/3/2022, đến ngày 29/3/2022 thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Những người tham gia tố tụng:

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Văn Th, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: Số 17 T1/79/81 đường Đ, phường L, quận N, thành phố H; hiện ở: Số 59, tổ 3 xóm Tr, phường Đ, quận N, thành phố H, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 15 phút ngày 20/3/2022, tổ Công tác đội Cảnh sát hình sự Công an quận Ngô Quyền bắt quả tang Phạm Văn Th, sinh năm: 1984, nơi ĐKHKTT: Số 17 T1/79/81 đường Đ, phường L, quận N, thành phố H; hiện ở: Số 59, tổ 3 xóm Tr, phường Đ, quận N, thành phố H đang ghi số đề cho một nữ giới tại khu vực trước cửa nhà số 13 đường Lê Lai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Khi lực lượng công an bắt giữ Th thì đối tượng mua số đề bỏ chạy. Cơ quan công an đã thu giữ của Th: một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã qua sử dụng, số tiền 1.060.000 đồng, 01 tập tích kê ghi số đề gồm 16 tờ, kích thước 7x10 cm, trong đó có 2 tờ đã ghi sẵn ngày 20/3/2022 và chữ kí của Th, 02 tờ giấy than.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn Th khai nhận việc bán lô, đề và chuyển bảng cho Trần T để hưởng hoa hồng.

Ngày 21/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền tiến hành giữ người và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần T tại phố Đ, tổ 14, phường L, quận K, Hải Phòng thu giữ: 01 điện thoại Iphone 7 Plus, 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng hồng và 01 bộ máy tính để bàn.

Tại Cơ quan điều tra, Trần T khai nhận việc nhận bảng đề của Phạm Văn Th, Lê Thị M và Phạm Thị Th rồi chuyển cho Kim Văn C và một nam giới tên Tùng (không xác định được lai lịch, địa chỉ).

Ngày 21/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền T hành giữ người khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Kim Văn C, Phạm Thị Th và Lê Thị M. Thu giữ của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu trắng, 01 điện thoại ViVo V23 màu xanh, 01 điện thoại OPPO A93 màu tím; thu giữ của Hoa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y15 màu xanh.

Tại cơ quan điều tra, Kim Văn C khai nhận việc nhận bảng đề của Trần T và chuyển bảng đề cho Đặng Thị L.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền tiếp tục T hành triệu tập đối tượng Đặng Thị L lên làm việc nhưng L vắng mặt tại địa phương, đến ngày 07 tháng 5 năm 2022, Đặng Thị L đến trụ sở Công an quận Ngô Quyền đầu thú.

Kết quả kiểm tra và giám định dữ liệu điện tử (các điện thoại, máy tính để bàn) tạm giữ của các đối tượng: điện thoại Samsung Galaxy A 22 của Lê Thị M, điện thoại Vivo Y15 của Phạm Thị Th và điện thoại Iphone 7 Plus của Trần T đều có hình ảnh liên quan đến số lô, số đề trong phần tin nhắn zalo. Cơ quan điều tra đã sao lưu các tài liệu có liên quan đến hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc của các đối tượng.

Tại cơ quan điều tra, Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C, Phạm Thị Th, Lê Thị M, Phạm Văn Th khai nhận: Hàng ngày, Phạm Thị Th, Lê Thị M và Phạm Văn Th ngồi ghi số lô, đề của khách đánh. Bản chính người mua số đề giữ còn bản in giấy than thì Th, M và Thành giữ lại để đối chiếu rồi tổng hợp lại bảng đề khách đánh trong ngày rồi chuyển qua zalo cho Trần T (Th sử dụng nick zalo tên “Th” gửi bảng đề đến nick zalo “bin” của T, M sử dụng nick zalo tên “M” gửi bảng đề đến nick zalo “Hoa cỏ may” của T, Thành sử dụng nick zalo tên “Th Phạm” gửi bảng đề đến nick zalo “bin” của T). Trần T ở nhà nhận bảng đề rồi tổng hợp lại và chuyển cho Kim Văn C qua zalo (T sử dụng nick zalo tên “bin” gửi bảng đề đến nick zalo “Bechkham” của C) và chuyển bảng đề còn lại một nam giới tên Tùng đến nhà T thu bảng trực tiếp. Sau khi nhận bảng của T, C chuyển bảng đề cho Đặng Thị L để hưởng hoa hồng (C sử dụng nick zalo tên “Bechkham” gửi bảng đề đến nick zalo “Lộc phát-Phát lộc” của L). L trả cho C tỉ lệ phần trăm tương ứng: 9% tổng số tiền đề, 7% tổng số tiền bao, 22% tổng số tiền xiên và 32% tổng số tiền ba càng. C giữ lại mỗi loại 1% hoa hồng rồi trả cho T. T giữ lại mỗi loại 1% hoa hồng rồi trả cho Th, M và Th. Kết quả số đề tính theo kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng hàng ngày, người nào trúng “đề” (tức là số đề trùng với 2 số cuối của giải xổ số đặc biệt) được hưởng gấp 80 lần số tiền bỏ ra; người nào trúng số “bao” (tức là số đề trùng với 2 số cuối của bất kì giải xổ số nào) được hưởng gấp 3,4 lần số tiền bỏ ra; người nào trúng “xiên 2” (tức là 2 số cuối của cặp số đề trùng với 2 số cuối của 2 giải xổ số bất kì) được hưởng gấp 14 lần số tiền bỏ ra; người nào trúng “3 càng” (tức là 3 chữ số đề trùng với 3 số cuối của giải xổ số đặc biệt) được hưởng gấp 400 lần số tiền bỏ ra. Hàng ngày, sau khi ghi, nhận số lô, đề của người chơi, Th và M tổng hợp rồi chụp, gửi qua tin nhắn zalo cho T. T tổng hợp chuyển cho C, C chuyển tiếp cho L. Ngày hôm sau các bên sẽ thanh toán trực tiếp tiền được thua và tiền phần trăm hoa hồng cho nhau. Làm xong ngày nào các bị can đều xóa hết thông tin trong điện thoại, hủy các tài liệu liên quan để tránh bị phát hiện. Do vậy, về số tiền dùng đánh bạc và thu lợi bất chính những ngày trước đó, hiện chưa chứng minh được. Đối với điện thoại của C và L dùng vào việc giao nhận bảng đề, C và L đã vứt điện thoại đi không xác định được địa điểm.

Ngày 20/3/2022, Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C, Phạm Thị Th, Lê Thị M và Phạm Văn Th đã bán số lô đề và nhận chuyển bảng đề như sau:

Phạm Văn Th bán được tổng số tiền 4.910.000 đồng tiền lô đề các loại nhưng chưa kịp chuyển bảng cho T thì bị cơ quan công an bắt quả tang.

Lê Thị M đã bán số lô, số đề cho một số khách đi đường (không rõ lai lịch, địa chỉ) với tổng số tiền là 8.170.000 đồng, trong đó: số tiền đề là 3.500.000 đồng, số tiền bao là 4.300.000 đồng, số tiền xiên 2 là 350.000 đồng, số tiền ba càng là 20.000 đồng.

Theo thỏa thuận, M sẽ được T trả số tiền hoa hồng là: 536.000 đồng (07% x 3.500.000 + 5% x 4.300.000 + 20% x 350.000 + 30% x 20.000 đồng = 245.000 + 215.000 + 70.000 + 6.000 = 536.000 đồng).

Ngày 20/3/2022, Phạm Thị Th đã bán số lô, số đề cho một số khách đi đường (không rõ lai lịch, địa chỉ) với tổng số tiền là 21.610.000 đồng, trong đó: số tiền đề là 5.160.000 đồng, số tiền bao là 15.800.000 đồng, số tiền xiên 2 là 600.000 đồng, số tiền ba càng là 50.000 đồng.

Theo thỏa thuận, Th sẽ được T trả số tiền hoa hồng là: 1.286.000 đồng (07% x 5.160.000 + 5% x 15.800.000 + 20% x 600.000 + 30% x 50.000 = 361.000 + 790.000 + 120.000 + 15.000 = 1.286.000 đồng).

Đối chiếu kết quả mở thưởng ngày 20/3/2022, bảng đề Th chuyển cho T, bảng đề T chuyển cho C rồi C chuyển cho L đều không trúng thưởng, bảng đề M chuyển cho T, khách trúng tổng cộng 7.180.000 đồng (trong đó, số đề 48 đánh số tiền 60.000 đồng trúng thưởng được 4.800.000 đồng; số bao 63 đánh 300.000 đồng, trúng thưởng được 1.020.000 đồng, số bao 66 đánh 400.000 đồng, trúng thưởng được 1.360.000 đồng). Như vậy, số tiền M dùng để đánh bạc là: 15.350.000 đồng (8.170.000 + 7.180.000 = 15.350.000 đồng).

Trần T tập hợp bảng đề của Phạm Thị Th và Trần Thị M là 29.780.000 đồng rồi chuyển bảng đề cho Kim Văn C một bảng đề số tiền là 24.500.000 đồng, không có khách trúng thưởng và cho Tùng một bảng đề số tiền là 5.280.000 đồng và số tiền khách trúng ở bảng của Tùng là 7.180.000 đồng. Số tiền T dùng để đánh bạc là: 36.960.000 đồng (29.780.000 + 7.180.000 = 36.960.000 đồng). T sẽ được hưởng số tiền hoa hồng là: 297.800 đồng (1% x 29.780.000 đồng = 297.800 đồng).

Kim Văn C nhận bảng đề của T số tiền là 24.500.000 đồng (trong đó: số tiền đề là 4.500.000 đồng, số tiền bao là 19.400.000 đồng, số tiền xiên 2 là 600.000 đồng) rồi chuyển hết cho Đặng Thị L.

Theo thỏa thuận, C sẽ được L trả số tiền hoa hồng là: 1.895.000 đồng (09% x 4.500.000 + 7% x 19.400.000 + 22% x 600.000 đồng = 405.000 + 1.358.000 + 132.000 = 1.895.000 đồng). C sẽ được hưởng số tiền hoa hồng là: 245.000 đồng (1% x 24.500.000 đồng = 245.000 đồng).

Số tiền thu lợi bất chính L sẽ được hưởng từ việc nhận bảng đề của C là: 22.605.000 đồng (24.500.000 – 1.895.000 = 22.605.000 đồng).

Về đồ vật, tài liệu thu giữ:

Đối với 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng hồng và 01 bộ máy tính để bàn thu giữ của Trần T; 01 điện thoại ViVo V23 màu xanh và 01 điện thoại OPPO A93 màu tím thu giữ của Lê Thị M, quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T và M.

Đối với chiếc điện thoại Nokia TA-1105 thu giữ của Th, quá trình kiểm tra và giám định không liên quan đến việc phạm tội ngày 20/3/2022 chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền bảo quản chờ xử lý.

Về vật chứng:

- 01 tập tích kê ghi số đề gồm 16 tờ, kích thước 7x10 cm, trong đó có 2 tờ đã ghi sẵn ngày 20/3/2022 và chữ kí của Thành, 02 tờ giấy than được đánh số bút lục kèm theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 điện thoại Iphone 7 Plus, 01 điện thoại Samsung Galaxy A22 màu trắng và 01 điện thoại ViVo 23E và số tiền 1.060.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền bảo quản chờ xử lý.

Tại Bản Cáo trạng số 143/CT-VKS ngày 28/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C, Phạm Thị Th về tội Tổ chức đánh bạc theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Thị M phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

* Kiểm sát viên tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C, Phạm Thị Th về tội Tổ chức đánh bạc theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Thị M phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo

+ Đặng Thị L số tiền từ 120.000.000 đồng đến 130.000.000 đồng

+ Trần T số tiền từ 120.000.000 đồng đến 130.000.000 đồng.

+ Kim Văn C từ 120.000.000 đồng đến 130.000.000 đồng.

+ Phạm Thị Th từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo

Lê Thị M từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Iphone 7 Plus, 01 điện thoại Samsung Galaxy A22 màu trắng và 01 điện thoại ViVo 23E là phương tiện để các bị cáo liên hệ dùng vào việc phạm tội và số tiền 1.060.000 đồng là số tiền do phạm tội mà có nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ nhà ; đối với chiếc điện thoại Nokia TA-1105 của anh Phạm Văn Th không dùng vào việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho anh Thành (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Các bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung vụ án nêu trên thể hiện: Ngày 20/3/2022, Đặng Thị L có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức nhận bảng số đề được thua bằng tiền từ Kim Văn C với tổng số tiền là 24.500.000 đồng nhằm hưởng lợi 22.605.000 đồng.

Trần T có hành vi nhận bảng đề được thua bằng tiền từ Phạm Thị Th và Lê Thị M với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 36.960.000 đồng. T đã chuyển bảng đề cho Kim Văn C và một nam giới tên Tùng nhằm hưởng lợi số tiền là 297.800 đồng.

Kim Văn C có hành vi nhận bảng đề được thua bằng tiền từ Trần T với tổng số tiền là 24.500.000 đồng rồi chuyển cho Đặng Thị L nhằm hưởng lợi số tiền là 245.000 đồng.

Phạm Thị Th có hành vi nhận ghi số lô, số đề có thỏa thuận thắng thua bằng tiền với những người đánh bạc, sau đó chuyển bảng đề cho Trần T với tổng số tiền là 21.610.000 đồng nhằm hưởng lợi số tiền là 1.286.000 đồng.

Lê Thị M có hành vi nhận ghi số lô, số đề có thỏa thuận thắng thua bằng tiền với những người đánh bạc, sau đó chuyển bảng đề cho Trần T với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 15.350.000 đồng nhằm hưởng lợi số tiền là 536.000 đồng.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C, Phạm Thị Th về tội Tổ chức đánh bạc theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Thị M phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo Đặng Thị L, Trần T đều có 01 tiền án tuy đã được xóa án tích nhưng cho thấy các bị cáo có một nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C, Phạm Thị Th, Lê Thị M thành khẩn khai báo, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đánh giá vai trò đồng phạm: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Đặng Thị L nhận bảng kênh từ các con bạc các bị cáo còn lại là đồng phạm giúp sức tích cực.

Xét về hành vi và nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các của các bị cáo cũng như hậu quả gây ra cho xã hội. Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải xử hình phạt bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt tiền cũng đủ răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại Iphone 7 Plus, 01 điện thoại Samsung Galaxy A22 màu trắng và 01 điện thoại ViVo 23E là phương tiện để các bị cáo liên hệ dùng vào việc phạm tội và số tiền 1.060.000 đồng là số tiền do phạm tội mà có nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ nhà ; đối với chiếc điện thoại Nokia TA-1105 của anh Phạm Văn Th không dùng vào việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho anh Thành (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Đặng Thị L số tiền là 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu đồng)

Trần T số tiền là 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu đồng)

Kim Văn C số tiền là 70.000.000 (bảy mươi triệu đồng)

Phạm Thị Th số tiền là 70.000.000 (bảy mươi triệu đồng)

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Lê Thị M số tiền là 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng).

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 Plus, 01 điện thoại Samsung Galaxy A22 màu trắng, 01 điện thoại ViVo 23E và số tiền 1.060.000 (một triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng); trả lại anh Phạm Văn Th chiếc điện thoại Nokia TA-1105 (theo biên lai thu tiền số 0003921 ngày 07/11/2022 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C, Phạm Thị Th, Lê Thị M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C, Phạm Thị Th, Lê Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Người bào chữa;

- UBND phường Niệm Nghĩa, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- VKSND quận Ngô Quyền;

- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;

- Cơ quan THA hình sự Công an Ngô Quyền;

- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;

- Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;

Nguyễn Hồng Giang

- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;

- Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,

KẾT LUẬN

Ngày 20/3/2022, Đặng Thị L có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức nhận bảng số đề được thua bằng tiền từ Kim Văn C với tổng số tiền là 24.500.000 đồng nhằm hưởng lợi 22.605.000 đồng.

Trần T có hành vi nhận bảng đề được thua bằng tiền từ Phạm Thị Th và Lê Thị M với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 36.960.000 đồng. T đã chuyển bảng đề cho Kim Văn C và một nam giới tên Tùng nhằm hưởng lợi số tiền là 297.800 đồng.

Kim Văn C có hành vi nhận bảng đề được thua bằng tiền từ Trần T với tổng số tiền là 24.500.000 đồng rồi chuyển cho Đặng Thị L nhằm hưởng lợi số tiền là 245.000 đồng.

Phạm Thị Th có hành vi nhận ghi số lô, số đề có thỏa thuận thắng thua bằng tiền với những người đánh bạc, sau đó chuyển bảng đề cho Trần T với tổng số tiền là 21.610.000 đồng nhằm hưởng lợi số tiền là 1.286.000 đồng.

Lê Thị M có hành vi nhận ghi số lô, số đề có thỏa thuận thắng thua bằng tiền với những người đánh bạc, sau đó chuyển bảng đề cho Trần T với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 15.350.000 đồng nhằm hưởng lợi số tiền là 536.000 đồng.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định các bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:

Bị can Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C và Phạm Thị Th đã đồng phạm tội Tổ chức đánh bạc, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Điều 322 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức đánh bạc… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

… c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên.”

Bị can Lê Thị M đã phạm tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng … thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị can Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C, Phạm Thị Th và Lê Thị M được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị can Lê Thị M được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị can Đặng Thị L được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hành vi đánh bạc của Phạm Văn Th ngày 20/3/2022 với số tiền dùng đánh bạc dưới 5 triệu đồng chưa đủ cấu thành tội phạm, cơ quan Công an đã quyết định xử phạt hành chính đối với Thành (bút lục: 141).

Đối với đối tượng tên Tùng nhận bảng đề của Trần T và những người có hành vi đánh bạc mua số lô, số đề của Phạm Thị Th, Lê Thị M, Phạm Văn Th, quá trình điều tra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

QUYẾT ĐỊNH

1. Truy tố bị can Đặng Thị L, Trần T, Kim Văn C và Phạm Thị Th ra trước Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền để xét xử về tội Tổ chức đánh bạc, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Truy tố bị can Lê Thị M ra trước Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền để xét xử về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

2. Kèm theo Cáo trạng có:

- Hồ sơ vụ án có bảng thống kê tài liệu kèm theo.

- Bảng kê vật chứng.

- Danh sách những người Viện kiểm sát đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa.

Cỡ chữ