- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Quốc A - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Quốc A, Lý Phương Y phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Võ Quốc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TAND KHU VỰC 2 ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 140/2026/HS-ST Ngày: 27/7/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Thanh Hoàng;
2. Ông Nguyễn Văn Thành;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2026/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2026 đối với các bị cáo:
Võ Quốc A (Tên gọi khác: S), sinh năm 1988, tại tỉnh Đồng Tháp. CCCD: 082088017160.
Nơi cư trú: Ấp L, xã T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Tấn H và bà Trần Thị O; vợ: Huỳnh Thị N, con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019; Anh chị em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ ngày 14/11/2025, chuyển tạm giam ngày 23/11/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Lý Phương Y, sinh năm 1997, tại tỉnh Đồng Tháp. CCCD: 082197009097.
Nơi cư trú: Ấp X, xã G, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Cng6 nhân; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn S1 và bà Đỗ Thị C; chồng: Võ Tiến Đ (đã ly hôn), con: có 01 con, sinh năm 2021; Anh chị em ruột: 02, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2005 (đã chết); tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ ngày 14/11/2025, chuyển tạm giam ngày 23/11/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lý Văn S1, sinh năm 1973 (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp X, xã G, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng: Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp R, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 13/11/2025, bị cáo Võ Quốc A liên lạc với bị cáo Lý Phương Y qua ứng dụng Facebook và thống nhất cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà nghỉ C1, thuộc ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp, do ông Phạm Văn H2, sinh năm 1960, cư trú cùng địa chỉ làm chủ. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo A điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha loại Sirius biển kiểm soát 63B7-331.62 đến khu vực cống T thuộc xã T, tỉnh Đồng Tháp mua 1.500.000 đồng ma túy của một đối tượng tên V (không rõ họ tên, địa chỉ) và được V cho 01 (một) nỏ thủy tinh.
Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Hồng H1, sinh ngày 21/02/1995, cư trú tại ấp R, xã T, tỉnh Đồng Tháp đến nhà của bị cáo Y chơi, bị cáo Y rủ H1 đến nhà nghỉ C1 để cùng sử dụng ma túy cùng với bị cáo Y và bị cáo A, H1 đồng ý. Bị cáo Y mang theo 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 (một) chai nhựa, trên nắp chai được khoét hai lỗ tròn, một lỗ gắn nỏ thủy tinh và một lỗ gắn ống hút rồi điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Dream biển số 60F8-7110, còn H1 điều khiển xe mô tô của mình đến nhà nghỉ C1. Bị cáo Y thuê phòng số 9, H1 thuê phòng số 7. Sau đó, H1 sang phòng số 9 ngồi nói chuyện với bị cáo Y, bị cáo Y nhắn tin cho bị cáo A biết số phòng. Khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, bị cáo A đến nhà nghỉ C1 và vào phòng số 9, lúc này trong phòng có bị cáo Y và H1. Bị cáo Y lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy mang theo ra, đốt và hút phần ma túy còn sót lại trong nỏ thủy tinh. Sau khi sử dụng xong, bị cáo Y tháo nỏ thủy tinh ra và cất vào áo khoác. Tiếp đó, bị cáo A lấy số ma túy vừa mua cùng 01 (một) nỏ thủy tinh từ trong túi quần ra, gắn vào chai nhựa của bị cáo Y rồi bỏ ma túy vào nỏ, châm lửa sử dụng trước, bị cáo Y và H1 sử dụng sau. Sau khi sử dụng ma túy xong, H1 về nhà trước, còn bị cáo Y và bị cáo A tiếp tục ở lại phòng số 9 nói chuyện, số ma túy còn lại chưa sử dụng hết được bị cáo A cầm trên tay nhằm mục đích tiếp tục sử dụng vào lần sau.
Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, Công an xã T phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ tiến hành kiểm tra phòng số 9 của nhà nghỉ C1, phát hiện bắt quả tang bị cáo A đang ngồi trên giường nệm, trên tay cầm 02 gói ni lông dạng túi zip có viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy cùng 01 nỏ thủy tinh. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và các đồ vật có liên quan.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) túi niêm phong kí hiệu vụ số 2309 ngày 17 tháng 11 năm 2025 có chữ ký của Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Võ Thanh S2 (Bên nhận) và có hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP, bên trong có:
+ 03 (ba) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 03 (ba) mẫu ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định là M1=1,3050 gam, M2=5,9105 gam và M3=0,0100 gam.
+ 03 (ba) gói nylon trong suốt, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip) đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định, bên trong đều không chứa gì.
+ 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt đã bị cắt một đầu, bên trong không chứa gì.
+ 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong không chứa gì.
- 01 (một) túi niêm phong kí hiệu vụ số 290 ngày 07 tháng 02 năm 2026 có chữ ký của Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Nguyễn Thanh T (Bên nhận) và có hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP, bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong ống thủy tinh không chứa gì.
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 01 đoạn ống nhựa màu trắng (bên trong chai nhựa); một chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ kích thước (8,5x5,1) cm, trên nắp có khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống nhựa dài 16cm, một hộp quẹt ga màu đen; một hộp quẹt ga màu trắng, đã được niêm phong thu giữ trong túi niêm phong mã số NS2 24017658 có các chữ ký của Lê Trọng T1, Lê Phan Thanh T2, Võ Quốc A, Lý Phương Y.
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung, màu xanh; Số Imei 1: 353151332552276; Số I 2: 354386512552279.
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung, màu đen; Số Imei 1: 354312130259071; Số I 2: 355235620259070.
- 01 (một) hộp quẹt ga màu đỏ, 01 hộp quẹt ga4 màu vàng, 02 bao ống tay bằng vải màu đen, mỗi bao ống tay dài 40 cm, tất cả được cho vào túi niêm phong mã số NS2 24017683 có các chữ ký của Lê Phát T3, Nguyễn Đoàn Thanh T4, Lý Phương Y.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, biển số 63B7-331.62.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Dream, biển số 60F8-7110.
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Lý Phương Y và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Lý Phương Y, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Võ Quốc A và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Võ Quốc A, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Nguyễn Thị Hồng H1 và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Nguyễn Thị Hồng H1, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
Bản kết luận giám định số 2366/KL-KTHS ngày 22/11/2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đ xác định: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Võ Quốc A, chứa trong 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng đậy kín, được niêm phong bằng giấy trắng có các chữ ký ghi họ tên: Lê Phát T3, Võ Thanh S2, Nguyễn Đoàn Thanh T4, Võ Quốc A và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ TÂN HÒA – CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP; để trong 01 (một) túi nylon trong suốt được niêm phong bằng giấy trắng có các chữ ký ghi họ tên: Lê Phát T3, Võ Thanh S2, Nguyễn Đoàn Thanh T4, Võ Quốc A và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ TÂN HÒA – CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP.
Bản kết luận giám định số 2367/KL-KTHS ngày 22/11/2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đ xác định: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Lý Phương Y, chứa trong 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng đậy kín, được niêm phong bằng giấy trắng có các chữ ký ghi họ tên: Lê Phát T3, Võ Thanh S2, Nguyễn Đoàn Thanh T4, Lý Phương Y và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ TÂN HÒA – CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP; để trong 01 (một) túi nylon trong suốt được niêm phong bằng giấy trắng có các chữ ký ghi họ tên: Lê Phát T3, Võ Thanh S2, Nguyễn Đoàn Thanh T4, Lý Phương Y và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ TÂN HÒA – CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP.
Bản kết luận giám định số 2309/KL-KTHS ngày 17/11/2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đ xác định:
Các mẫu tinh thể màu trắng và tinh thể màu nâu gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 7,3730 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu ký hiệu M1 có khối lượng 1,3195 gam: mẫu ký hiệu M2 có khối lượng 6,0019 gam; và mẫu ký hiệu M3 có khối lượng 0,0516 gam).
Bản kết luận giám định số 290/KL-KTHS ngày 07/02/2026 của Phòng K - Công an tỉnh Đ xác định:
Mẫu chất bám dính màu nâu gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0506 gam, loại Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số 782/KL-KTHS ngày 07/5/2026 của Phòng K - Công an tỉnh Đ xác định:
1. Xe mô tô hai bánh biển số 63B7-331.62:
- Số khung: RLCS5C6K0FY216806 là số nguyên thủy.
- Số máy: 5C6K-216808 là số nguyên thủy.
2. Xe mô tô hai bánh biển số 60F8-7110:
- Số khung: không có.
- Số máy: C100ME-0138483 là số nguyên thủy.
Tại phiên tòa, các bị cáo A, bị cáo Y đã khai nhận hành vi phạm tội của mình là đúng theo nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đúng tội không oan, sai.
Ông Lý Văn S1 trình bày: Xe mô tô biển 60F8-7110 là của ba ông cho ông, ông đề nghị được nhận lại để làm phương tiện di chuyển. Ngoài ra, không trình bày gì khác.
Bản cáo trạng số 20/CT-VKSDTP-KV ngày 17/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Võ Quốc A về tội “Tổ chức trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lý Phương Y về tội “Tổ chức trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp trong phần tranh luận giữ nguyên quan điểm như cáo trạng, truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản đã nêu trên, đồng thời đưa ra những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Võ Quốc A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Võ Quốc A mức án từ 07 năm đến 08 năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, mức án từ 05 năm đến 06 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự đề nghị tổng hợp hình phạt tù đối với bị cáo Võ Quốc A. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lý Phương Y phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lý Phương Y mức án từ 07 năm đến 08 năm tù giam.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tiêu hủy:
- 01 (một) túi niêm phong kí hiệu vụ số 2309 ngày 17 tháng 11 năm 2025 có chữ ký của Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Võ Thanh S2 (Bên nhận) và có hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP, bên trong có:
+ 03 (ba) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 03 (ba) mẫu ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định là M1=1,3050 gam, M2=5,9105 gam và M3=0,0100 gam.
+ 03 (ba) gói nylon trong suốt, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip) đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định, bên trong đều không chứa gì.
+ 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt đã bị cắt một đầu, bên trong không chứa gì.
+ 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong không chứa gì.
- 01 (một) túi niêm phong kí hiệu vụ số 290 ngày 07 tháng 02 năm 2026 có chữ ký của Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Nguyễn Thanh T (Bên nhận) và có hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP, bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong ống thủy tinh không chứa gì.
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 01 đoạn ống nhựa màu trắng (bên trong chai nhựa); một chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ kích thước (8,5x5,1) cm, trên nắp có khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống nhựa dài 16cm, một hộp quẹt ga màu đen; một hộp quẹt ga màu trắng, đã được niêm phong thu giữ trong túi niêm phong mã số NS2 24017658 có các chữ ký của Lê Trọng T1, Lê Phan Thanh T2, Võ Quốc A, Lý Phương Y.
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Lý Phương Y và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Lý Phương Y, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Võ Quốc A và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Võ Quốc A, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Nguyễn Thị Hồng H1 và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Nguyễn Thị Hồng H1, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị trả lại cho người quản lý hợp pháp:
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung, màu xanh; Số Imei 1: 353151332552276; Số I 2: 354386512552279.
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung, màu đen; Số Imei 1: 354312130259071; Số I 2: 355235620259070.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, biển số 63B7-331.62.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Dream, biển số 60F8-7110.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tham gia tranh luận, bị cáo nói lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Võ Quốc A, bị cáo Lý Phương Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp đã truy tố. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 16 giờ 50 ngày 13/11/2025, tại phòng số 9 nhà nghỉ “Chí Thành”, địa chỉ: ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Võ Quốc A có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho Y và H1 sử dụng ma túy; bị cáo Y có hành vi thuê địa điểm, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy cho bị cáo A và H1 và sử dụng ma túy. Hành vi của bị cáo Võ Quốc A, bị cáo Lý Phương Y đã phạm vào tội “Tổ chức trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo A còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 7,3730 gam nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo Võ Quốc A đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Bị cáo Y không có tiền án, tiền sự, qua đó cho thấy bị cáo Y có nhân thân tốt, bị cáo A mặc dù không có tiền án, tiền sự, nhưng bị có từng bị kết án, qua đó cho thấy bị cáo A có nhân thân không tốt.
Bị cáo A, bị cáo Y không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác là nguyên nhân phát sinh tội phạm. Do đó, cần phải được xét xử một cách nghiêm minh.
. Đối với người bán ma tuý cho bị cáo Võ Quốc A, quá trình điều tra bị cáo A khai không biết lai lịch người này, không nhớ số điện thoại vì bị cáo ghi ra tờ giấy, hiện nay tờ giấy đã mất, khi gọi xong thì bị cáo A liền xóa số của người này, đã dùng các biện pháp nghiệp vụ để làm rõ nhưng vẫn không được nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thể điều tra xử lý được là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với ông Phạm Văn H2 là chủ nhà nghỉ, quá trình điều tra, bị cáo Y, bị cáo A, H1 khai ông H2 không biết việc bị cáo Y, bị cáo A, H1 đem ma túy vào nhà nghỉ để sử dụng nên không có cơ sở để xử lý là phù hợp.
Đối với phần ma túy còn sót lại trong nỏ thủy tinh của bị cáo Y, không d8u3 định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với Nguyễn Thị Hồng H1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an xã T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ số ma túy được hoàn trả sau giám định, công cụ dùng để đựng, sử dụng ma túy là:
- 01 (một) túi niêm phong kí hiệu vụ số 2309 ngày 17 tháng 11 năm 2025 có chữ ký của Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Võ Thanh S2 (Bên nhận) và có hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP, bên trong có:
+ 03 (ba) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 03 (ba) mẫu ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định là M1=1,3050 gam, M2=5,9105 gam và M3=0,0100 gam.
+ 03 (ba) gói nylon trong suốt, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip) đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định, bên trong đều không chứa gì.
+ 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt đã bị cắt một đầu, bên trong không chứa gì.
+ 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong không chứa gì.
- 01 (một) túi niêm phong kí hiệu vụ số 290 ngày 07 tháng 02 năm 2026 có chữ ký của Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Nguyễn Thanh T (Bên nhận) và có hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP, bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong ống thủy tinh không chứa gì.
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 01 đoạn ống nhựa màu trắng (bên trong chai nhựa); một chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ kích thước (8,5x5,1) cm, trên nắp có khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống nhựa dài 16cm, một hộp quẹt ga màu đen; một hộp quẹt ga màu trắng, đã được niêm phong thu giữ trong túi niêm phong mã số NS2 24017658 có các chữ ký của Lê Trọng T1, Lê Phan Thanh T2, Võ Quốc A, Lý Phương Y.
Chuyển lưu vào hồ sơ vụ án:
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Lý Phương Y và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Lý Phương Y, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Võ Quốc A và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Võ Quốc A, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Nguyễn Thị Hồng H1 và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Nguyễn Thị Hồng H1, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
Trả lại cho bị cáo Lý phương Y tang vật, không phải là công cụ phạm tội: 01 (một) điện thoại hiệu Samsung, màu xanh; Số Imei 1: 353151332552276; Số I 2: 354386512552279.
Trả lại cho bị cáo Võ Quốc A, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội:
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung, màu đen; Số Imei 1: 354312130259071; Số I 2: 355235620259070.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, biển số 63B7-331.62.
Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Dream, biển số 60F8-7110, không phải là phương tiện phạm tội, tuy nhiên, xe mô tô này không có số khung, không đủ điều kiện lưu hành, nên trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ xử lý theo quy định.
. Về án phí: Bị cáo Võ Quốc A, bị cáo Lý Phương Y phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Quốc A, Lý Phương Y phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Võ Quốc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Quốc A 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/11/2025 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Quốc A 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/11/2025 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tính từ ngày 14/11/2025.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lý Phương Y 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/11/2025.
3. Về vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 .
Tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ số ma túy được hoàn trả sau giám định, công cụ dùng để đựng, sử dụng ma túy là:
- 01 (một) túi niêm phong kí hiệu vụ số 2309 ngày 17 tháng 11 năm 2025 có chữ ký của Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Võ Thanh S2 (Bên nhận) và có hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP, bên trong có:
+ 03 (ba) gói nylon trong suốt được dán kín chứa 03 (ba) mẫu ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định là M1=1,3050 gam, M2=5,9105 gam và M3=0,0100 gam.
+ 03 (ba) gói nylon trong suốt, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip) đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định, bên trong đều không chứa gì.
+ 01 (một) đoạn ống hút nhựa trong suốt đã bị cắt một đầu, bên trong không chứa gì.
+ 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong không chứa gì.
- 01 (một) túi niêm phong kí hiệu vụ số 290 ngày 07 tháng 02 năm 2026 có chữ ký của Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Nguyễn Thanh T (Bên nhận) và có hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP, bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong dạng phễu, bên trong ống thủy tinh không chứa gì.
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 01 đoạn ống nhựa màu trắng (bên trong chai nhựa); một chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ kích thước (8,5x5,1) cm, trên nắp có khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống nhựa dài 16cm, một hộp quẹt ga màu đen; một hộp quẹt ga màu trắng, đã được niêm phong thu giữ trong túi niêm phong mã số NS2 24017658 có các chữ ký của Lê Trọng T1, Lê Phan Thanh T2, Võ Quốc A, Lý Phương Y.
Chuyển lưu vào hồ sơ vụ án:
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Lý Phương Y và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Lý Phương Y, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Võ Quốc A và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Võ Quốc A, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
- 01 (một) que test nhanh nước tiểu của đối tượng Nguyễn Thị Hồng H1 và 01 vỏ đựng que test nhanh hiệu Fastep được niêm phong trong bao thư màu trắng bên trên có chữ ký của người được xét nghiệm Nguyễn Thị Hồng H1, người tiến hành xét nghiệm Võ Thanh S2, người chứng kiến Nguyễn Đoàn Thanh T4, Điều tra viên Lê Phát T3, dấu mộc ướt màu đỏ Công an tỉnh Đ – Công an xã T.
Trả lại cho bị cáo Lý phương Y tang vật, không phải là công cụ phạm tội: 01 (một) điện thoại hiệu Samsung, màu xanh; Số Imei 1: 353151332552276; Số I 2: 354386512552279.
Trả lại cho bị cáo Võ Quốc A, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội:
- 01 (một) điện thoại hiệu Samsung, màu đen; Số Imei 1: 354312130259071; Số I 2: 355235620259070.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, biển số 63B7-331.62.
Trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ 01 (một) xe mô tô hiệu Dream, biển số 60F8-7110 xử lý theo quy định.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Võ Quốc A, bị cáo Lý Phương Y mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 2 – Đồng Tháp; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THA hình sự CA tỉnh Đồng Tháp; - Phân trại tạm giam Gò Công - Trại tạm giam số 2 công an tỉnh Đồng Tháp; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã, phường (nơi bị cáo cư trú); - Bị cáo; - NLQ; - Bộ phận THAHS; - Hồ sơ vụ án, Lưu AV. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Nhàn - Nguyễn Trương Ngươn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Kiều Oanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Kiều Oanh |