vanban.org

Bản án 140/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 29/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Võ Thanh D.; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Hữu P., Nguyễn Chí B. vắng mặt nên tách phần bồi thường thiệt hại để giải quyết bằng vụ án dân sự khi các đương sự có yêu cầu.

Về vật chứng của vụ án: 01 máy tính xách tay hiệu Dell P39F kèm theo cục sạc pin, 01 máy tính bảng màu trắng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab E, 01 đồng hồ đeo tay màu vàng hiệu Police và 01 đôi dép da màu vàng đen đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về án phí: Á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Đăng H. phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Võ Thanh D.; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Hữu P., Nguyễn Chí B. vắng mặt nên tách phần bồi thường thiệt hại để giải quyết bằng vụ án dân sự khi các đương sự có yêu cầu.
TÒA ÁN NHÂN D. TP. NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2018/HS-ST
Ngày 29-6-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN D. THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Viên

Các Hội thẩm nhân D.:

Bà Nguyễn Thị Bời

Ông Trần Huy Liên

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân – Thư ký Tòa án nhân D. thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân D. thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trƣơng Việt Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân D. thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 172/2018/TLST-HS ngày 23/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2018/QĐXXST-HS ngày 18/6/2018 đối vớ i bị cáo:

Nguyễn Hữu Đăng H. sinh ngày 10/3/1983 tại Quảng Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 6, H., phường V., thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn X., xã Diên Xuân, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiê ̣p : Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; D. tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu P., sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị Thanh Q., sinh năm 1961; 01 con; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại và bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo H. có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Võ Thanh D., sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn M., xã H., huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên. Ông D. vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Hữu P., sinh năm 1960. Nơi cư trú: Thôn X., xã D., huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Ông P. vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Nguyễn Chí B., sinh năm 1974. Nơi cư trú: 199 Ng., thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ông B. vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/12/2017, Nguyễn Hữu Đăng H. đến xin làm phụ hồ tại công trình xây dựng do anh Võ Thanh D. quản lý. H. được bố trí ở cùng với anh D. và một số công nhân khác tại nhà trọ số 59/42 H., phường V., thành phố Nha Trang. Khoảng 17 giờ ngày 27/12/2017, sau khi làm việc xong ca chiều, anh D. chở H. về nhà trọ nghỉ ngơi, còn anh D. và số công nhân khác tiếp tục đi làm ca tối nên không có mặt tại nhà trọ. Trong lúc ở nhà một mình, H. nghe có âm thanh phát ra từ thiết bị điện tử trong phòng của anh D. nên nảy sinh ý định vào phòng lấy trộm tài sản. H. mở chốt cửa rồi đi vào phòng lấy 01 chiếc túi xách của anh D., bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu Dell P39F kèm theo cục sạc pin, 01 máy tính bảng màu trắng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab E, 01 đồng hồ đeo tay màu vàng hiệu Police và 01 đôi dép da màu vàng đen rồi bỏ trốn.

Đến 19 giờ 45 phút cùng ngày, anh D. về nhà trọ phát hiện bị mất số tài sản trên nên nghi ngờ H. lấy trộm. Anh D. đã nhiều lần điện thoại cho H. nhưng không được.

Khoảng 01 tuần sau, bằng số điện thoại của H., anh D. biết được địa chỉ trên mạng internet của H. nên tạo tài khoản kết bạn làm quen với H. trên mạng xã hội Zalo, Facebook. Khi biết H. đang ở tại xã D., huyện Diên Khánh, anh D. tìm cách hẹn gặp H.. Khoảng 10 giờ ngày 14/01/2018, anh D. cùng bạn đến Công an xã D. trình báo và phối hợp bắt giữ H. cùng toàn bộ vật chứng. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Hữu Đăng H. thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 29/HĐĐG ngày 24/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Dell P39F kèm theo cục sạc pin, chất lượng 50%, có giá trị 5.485.000đ; 01 máy tính bảng màu trắng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab E, chất lượng 70%, có giá trị là 3.143.000đ; 01 đồng hồ đeo tay màu vàng hiệu Police và 01 đôi dép da màu vàng đen không có đủ thông tin để định giá. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 8.628.000đ.

- Vật chứng của vụ án: 01 máy tính xách tay hiệu Dell P39F kèm theo cục sạc pin, 01 máy tính bảng màu trắng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab E, 01 đồng hồ đeo tay màu vàng hiệu Police và 01 đôi dép da màu vàng đen Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKSNT ngày 23/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đăng H. về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đăng H., xử phạt bị cáo H. từ 06 đến 09 tháng tù giam; không xem xét giải quyết việc bồi thường và vật chứng của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vụ án đa đượ̃

c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người bị hại ông Võ Thanh D. có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Hữu P., Nguyễn Chí B. mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, xét thấy việc vắng mặt của các đương sự có tên trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông D., ông P., ông B. theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu Đăng H. đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 151/CT-VKSNT ngày 23/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đăng H. về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phát H. hiệu quả phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, bị cáo H. phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã trả lại cho chủ sở hữu nên áp dụng quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, người bị hại ông Võ Thanh D.; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Hữu P., Nguyễn Chí B. vắng mặt nên tách phần bồi thường thiệt hại để giải quyết bằng vụ án dân sự khi các đương sự có yêu cầu.

. Về vật chứng của vụ án: 01 máy tính xách tay hiệu Dell P39F kèm theo cục sạc pin, 01 máy tính bảng màu trắng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab E, 01 đồng hồ đeo tay màu vàng hiệu Police và 01 đôi dép da màu vàng đen đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu Đăng H. phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm 1999, tuyên bố bi ̣ cáo Nguyễn Hữu Đăng H. phạm tội “ Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đăng H. 06 (sáu) tháng tù. Thờ i ha ̣n chấp hành hình phạt tù được tinh từ ngày bị bắt giam thi hành án.

́

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Võ Thanh D.; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Hữu P., Nguyễn Chí B. vắng mặt nên tách phần bồi thường thiệt hại để giải quyết bằng vụ án dân sự khi các đương sự có yêu cầu.

- Về vật chứng của vụ án: 01 máy tính xách tay hiệu Dell P39F kèm theo cục sạc pin, 01 máy tính bảng màu trắng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab E, 01 đồng hồ đeo tay màu vàng hiệu Police và 01 đôi dép da màu vàng đen đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Áp du ̣ng Điều 136 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Đăng H. phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền khá ng cá o bản á n sơ thẩm trong thờ i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án . Ngườ i bi ̣ hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ