vanban.org

Bản án 14

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc B phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;

Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2020 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trịnh Bảo Ng - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc B phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án : 14/2021/HSST
Ngày: 19 - 01 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Châu Thị Lệ

2. Bà Võ Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2021 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 241/2020/HSST ngày 31 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Trịnh Ngọc B; giới tính: Nam, sinh năm 1987 tại Tp. Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Ấp L, xã B, Tp. K, tỉnh ĐN; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông Trịnh H (sinh năm 1955) và bà Trương Thị Bích L (sinh năm 1958); Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên Trần Thị Bích T, sinh năm 1992, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2019 ; Tiền án: không; Tiền sự: 01; Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 03/10/2020 (Có mặt).

Bị hại :

- Anh Lâm Du H, sinh năm 1977; Trú tại: 445/6 Phan Huy Ích, Phường 14, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trương Thị Bích L, sinh năm 1958; Trú tại: Số 124/67/43/3 X, Phường B, quận T, Tp. H (vắng mặt)

- Chị Trịnh Trần Anh T, sinh năm 1978; Trú tại: Số 4/23/13 Đường số 03, tổ 17, khu phố 05, phường C, quận Đ, Tp. H (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 ngày 01/10/2020, ông Lâm Du H, sinh năm 1977; HKTT: 445/6 Phan Huy Ích, Phường 14, quận Gò Vấp đến Công trình xây dựng tại địa chỉ số 519/12/10 Nguyễn Văn Khối, Phường 8, quận Gò Vấp thì phát hiện một số thiết bị trong công trình bị mất. Sau đó, ông H kiểm tra lại camera thì thấy hình ảnh đối tượng Trịnh Ngọc B là nhân công (thợ điện) làm việc tại công trình đã trộm cắp tài sản, cụ thể:

Khoảng 22 giờ 00 ngày 30/9/2020, B đi xe gắn máy 53X3-4794 đến địa chỉ số 519/12/10 Nguyễn Văn Khối, Phường 8, quận Gò Vấp, lợi dụng không có ai trông coi tài sản nên B vào trong công trình lấy trộm các tài sản: 02 tấm gương treo tường; 02 vòi sen tắm đứng bằng Inox; 03 treo khăn bằng Inox; 01 lavabo ForWard bằng sứ; 01 kệ lavabo bằng kim loại rồi dùng xe máy trên chở về cất giấu tại địa chỉ: 30/17 TL03, phường Thạnh Lộc, Quận 12.

Đến 23 giờ 00 cùng ngày, B tiếp tục đến công trình lấy trộm: 01lavabo ForWard bằng sứ; 01 bàn cầu hiệu ForWard về cất giấu tại nơi ở.

Đến 05 giờ 30 ngày 01/10/2020, B tiếp tục đến địa chỉ trên lấy trộm 01 bàn để lavabo bằng kim loại; 03 vòi xịt vệ sinh hiệu ForWard; 01 lavabo ForWard; 10 đèn Led âm trần loại 9W không rõ thương hiệu; 02 đèn Led hiệu Paned Light 18W; 01 đèn Led hiệu Paned Light 12W về cất giấu tại địa chỉ nơi ở như hai lần trước.

Vật chứng thu giữ:

- 02 hai tấm gương có kích thước 55cmx40cm và 50cmx70cm;10 đèn Led màu trắng, hiệu Paned Light, hình tròn, đường kính 14cm, công suất 9W; 02 đèn Led hiệu Paned Lihgt màu trắng, hình tròn, đường kính 21cm, công suất 18W;01 đèn Led màu trắng hiệu DuHal, hình tròn, công suất 12W, đường kính 17cm; 03 Bộ vòi sịt vệ sinh bằng kim loại hiệu ForWard, dài 1,2m có dây và Pad treo; 01 Bộ bồn cầu hiệu ForWard men sứ màu trắng; 02 vòi sen tắm đứng Inox 304 hình chữ L, mỗi bộ gồm 01 củ sen, dây dẫn nước, tay sen, một ống đứng; 03 bộ Lavabo ForWard men sứ màu trắng kích thước 46cmx54cm; 01 bàn để Lavabo kin loại màu trắng xám; 01 bàn để Lavabo kim loại màu đen, nâu gỗ; 03 giá treo đồ bằng Inox loại 304.

Ngày 06/10/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Gò Vấp có Kết luận số 43/KL-HĐĐGTS kết luận: số tài sản mà Trịnh Ngọc B chiếm đoạt như trên có giá trị 13.087.000 đồng (Mười ba triệu không trăm tám bảy ngàn đồng). CQĐT-Công an quận Gò Vấp đã trả lại số tài sản này cho chủ sở hữu là ông Lâm Du H .

- 01 USB chứa hình ảnh dữ liệu Tâm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;

- 01 xe gắn máy hiệu Max màu xanh trắng, biển số 53X3-4794; số máy: AN0906EAZ; không ghi nhận được số khung. Qua điều tra xác minh, chiếc xe máy trên do bà Trương Thị Bích Lê (mẹ ruột của B) đã cho B làm phương tiện đi lại. Tại CQĐT, B khai nhận, xe máy trên do B là chủ sở hữu. vào ngày 30/9/2020, B đã dùng chiếc xe máy này để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Tại Cơ quan CSĐT, đối tượng B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như trên.

Tại bản cáo trạng số 13/Ctr-VKS, ngày 30/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Trịnh Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trịnh Ngọc B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khỏan 1 Điều 173, điểm s khỏan 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc B mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe gắn máy hiệu Max màu xanh trắng, biển số 53X3-4794; số máy: AN090GEA25952, số khung: AN090G-A25952;

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo thun ngắn tay màu đen và 01 chiếc quần sọc ngắn màu vàng sẫm

- Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB

Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 13.087.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Trịnh Ngọc B đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, bị cáo cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, điều đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước B hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

Chỉ trong một thời gian ngắn bị cáo đã thực hiện liên tiếp 03 lần chiếm đoạt tài sản của bị hại thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần thiết phải xử lý nghiêm. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giúp bị cáo nhận thức được hành vi sai trái, để cải tạo thành người tốt sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa, bị hại anh Lâm Du H vắng mặt nH qua hồ sơ thể hiện người bị hại anh H đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Các vật dụng bị cáo chiếm đoạt là các thiết bị xây dựng như đã nêu trên. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại. Việc trả lại là hợp lệ nên không đưa ra xem xét giải quyết lại.

- 01 USB chứa hình ảnh dữ liệu bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; Xét đây là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án.

- 01 xe gắn máy hiệu Max màu xanh trắng, biển số 53X3-4794; số máy: AN090GEA25952, số khung: AN090G-A25952; Qua điều tra xác minh, chiếc xe máy trên do bà Trịnh Thị Anh Thi đứng tên sở hữu, chị Thi đã tặng cho chị Trương Thị Bích Lê (mẹ ruột của B). Chị Lê có lời khai chị đã cho B làm phương tiện đi lại nên chị không có liên quan đến chiếc xe. Xét, bị cáo B đã dùng chiếc xe máy này để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 chiếc áo thun ngắn tay màu đen và 01 chiếc quần sọc ngắn màu vàng sẫm. Xét, bị cáo đã sử dụng mặc để thực hiện hành vi phạm tội, các đồ vật này không có giá trị nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

[[

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc B phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù

Thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2020

Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe gắn máy hiệu Max màu xanh trắng, biển số 53X3-4794; số máy: AN090GEA25952, số khung: AN090G-A25952;

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo thun ngắn tay màu đen và 01 chiếc quần sọc ngắn màu vàng sẫm

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 226/PNK ngày 26/10/2020 của Công an quận Gò Vấp)

-Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ