- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình H + ĐP - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Căn cứ Điều 255 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HẢI PHÒNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2026/HS-ST Ngày 04-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Toàn và ông Phạm Viết Trung
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hiếu- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Quế - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:
1/HOÀNG ĐÌNH H - Sinh năm 1999; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn D, xã T, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Đình Ch và bà Vũ Thị N; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Năm 2019, được Chủ tịch UBND xã B, Bình Giang, Hải Dương tặng giấy khen do có tinh thần xung phong tình nguyện lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng, được trừ 02 tháng 27 ngày tạm giữ, tạm giam, còn phải chấp hành 01 năm 03 ngày tù. H kháng cáo. TAND cấp cao tại Hà Nội xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, y án sơ thấm đối với H theo Bản án số 226/2025/HS-PT ngày 28/08/2025.
Bị bắt tạm giam từ ngày 03/09/2025 đến nay, tại Trại tạm giam số 02 - Công an TP Hải Phòng.
2/PHẠM NGỌC Q - Sinh năm 1982;Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Quàn, xã T, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Sỹ T (ông Thủy được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba) và bà Lê Thị L, có vợ là Nguyễn Thị T, sinh được 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 03/09/2025 đến nay, tại Trại tạm giam số 02 - Công an TP Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Đình H, Phạm Ngọc Q và Vũ Công T - Sinh năm 1996, trú tại thôn B, xã B, thành phố Hải Phòng là bạn quen biết xã hội và đều là người sử dụng ma túy đá.
Khoảng 20h30’ ngày 20/08/2025, H sử dụng điện thoại vivo V2022 lắp sim số 0384.753.477 (mượn của mẹ đẻ là bà Vũ Thị N) đăng nhập ứng dụng Zalo tên tài khoản “Lặng Thầm” nhắn tin, gọi điện đến tài khoản tên “Lãng Tử Tìm Vợ” của Q (Q sử dụng điện thoại samsung galaxy A05 lắp sim số 0985.595.822) bảo Q đi, mua ma túy về sử dụng, Q đồng ý và đi bộ đến nhà Hiền. Tại đây, H đưa 700.000đ để Q đi mua ma túy. Q cầm tiền đi bộ ra đường trục xã, thuê xe ôm của người không cho biết đến huyện Phủ Cừ, tỉnh Hưng Yên cũ gặp và mua của người không quen biết một túi ma túy đá với số tiền 700.000đ, rồi đi xe ôm về nhà H.
Q đi vào phòng ngủ đưa túi ma túy cho H, H đổ ma túy vào coóng thủy tinh gắn ở bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá đã chuẩn bị từ trước (gồm một chai nhựa, nhãn hiệu Number 1, nắp chai gắn ống hút và coóng thủy tinh) ở giường ngủ, dùng bật lửa ga hơ nóng dưới bầu coóng tạo khói và hút ma túy vào cơ thể, sau đó đưa cho Q sử dụng, đến khoảng 22h20’ cùng ngày thì Q đi về. Lúc này, T gọi điện, nhắn tin qua ứng dụng Zalo tên tài khoản “T” (T sử dụng điện thoại samsung A50S lắp sim số 0337.944.585) đến tài khoản của H, H nói với T về việc vừa sử dụng ma túy với Q, hiện ở trong coóng vẫn còn một ít, T bảo để cho T đến sử dụng, H đồng ý.
Khoảng 22h30’ cùng ngày, T đi bộ đến và vào phòng ngủ gặp H, T nhìn thấy tại giường ngủ để bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và nhìn thấy ma túy vẫn còn trong coóng thủy tinh, T nói với H “anh chơi nhé”- ý là bảo H cho sử dụng ma túy đá, H đồng ý. T dùng bật lửa hơ nóng coóng thủy tinh tạo khói hút vào cơ thể, sau đó ngủ tại nhà H.
Đến khoảng 07h sáng ngày 21/08/2025, T ngủ dậy lấy coóng thủy tinh sử dụng ma túy trước đó cất vào trong người rồi đi về nhà.
Ngày 25/08/2025 Công an xã Bình Giang nhận được đơn trình báo của quần chúng nhân dân xã B về việc Vũ Công T có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. Công an xã tiến hành triệu tập T lên làm việc và xét nghiệm ma túy trong nước tiểu, kết quả: T dương tính với ma túy. T khai nhận ngày 20/08/2025 đã sử dụng ma túy đá tại nhà H và tự nguyện giao nộp một coóng thủy tinh bên trong bầu coóng còn bán dính chất muội màu đen (là coóng thủy tinh các đối tượng đã sử dụng ma túy đá ngày 20/08/2025). Công an xã triệu tập làm việc, Hoàng Đình H và Phạm Ngọc Q thừa nhận đã cùng sử dụng ma túy đá tại nhà H vào tối ngày 20/08/2025. Cơ quan điều tra tiến hành xác định hiện trường, thu giữ tại giường ngủ của H 01 vỏ túi ni lông (1,5x1,5) cm, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng, H khai là vỏ túi ni lông đựng ma túy đã sử dụng cùng Q và T; 01 vỏ chai nước nhãn hiệu Number 1, nắp chai có gắn ống hút và 01 bật lửa ga, H khai là bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Quản lý của H điện thoại vivo V2022, quản lý của Q điện thoại samsung galaxy A05.
Kết luận giám bị số 863/KL-KTHS ngày 30/08/2025 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon tu giữ tại nhà H là ma túy loại Methamphetamine; có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong chất màu đen bám dính trong coóng thủy tinh thu giữ của Vũ Công T, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính. Hoàn lại mẫu vật sau giám định gồm: 01 túi nilon và 01 coóng thủy tinh trong bao gói mẫu niêm phong số 863MT-A/PC09.
Methamphetamine- STT 247, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ.
Kết quả xét nghiệm phát hiện ma túy trong nước tiểu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng lập ngày 25/08/2025 xác định: H, Q, T dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật xử lý vật chứng: Số mẫu hoàn lại cho giám định (Gồm 01 túi ni lông; 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ bao gói mẫu trong niêm phong số 863MT-A/PC09; 01 chai nhựa Number 1, 01 bật lửa ga, 02 điện thoại quản lý của Q và H hiện cơ quan cảnh sát điều tra đang quản lý tại kho vật chứng của Công an thành phố.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKS12 ngày 10 tháng 01 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12, thành phố Hải Phòng truy tố HOÀNG ĐÌNH H về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố Phạm Ngọc Q về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Đình H, Phạm Ngọc Q phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo H từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù. Tổng hợp hình phạt với 01 năm 03 ngày tù tại Bản án số 226 ngày 28/8/2025 của Toà phúc thẩm TAND tối cao, buộc bị cáo phải chấp hành từ 08 năm 06 tháng 03 ngày tù đến 09 năm 03 ngày tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam (03/9/2025).
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Q từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 9 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam (03/9/2025).
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 1 túi nilon và vỏ bao gói mẫu trong niêm phong số 863MT-A/PC09, 1 coóng thuỷ tinh và vỏ bao gói mẫu trong niêm phong số 863MT-B/PC09); 1 chai nhựa nhãn hiệu Number 1, 1 bật lửa ga; Tịch thu phát mại nộp NSNN trị giá 02 điện thoại di động quản lý của Q và H (có đặc điểm như trong biên bản quản lý).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST theo quy định.
Bị cáo Hoàng Đình H, Phạm Ngọc Q thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận với Kiểm sát viên, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Các nhân chứng được triệu tập tham gia xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đều có lời khai trong hồ sơ vụ án, được công bố tại phiên tòa, nên việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt là đúng pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án qua đó chứng minh được: Trong khoảng thời gian tử 21h50’ đến 23h ngày 20/08/2025, tại Thôn D, xã T, thành phố Hải Phòng, Hoàng Đình H đã có hành vi cung cấp địa điểm, dụng cụ và đưa tiền cho Phạm Ngọc Q có hành vi trực tiếp đi mua ma túy, để H, Q, Vũ Công T sử dụng trái phép chất ma túy;
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do ham chơi, cố ý tổ chức cho mình, cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, xâm phạm khách thể được luật hình sự bảo vệ là đã phạm tội theo quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Q đi mua ma túy để sử dụng cùng với H, sau đó đã về nhà, nên phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS. H tiếp tục gọi Vũ Công T tới sử dụng trái phép chất ma túy là đã phạm tội theo định khung phạm tội hai lần trở lên theo điểm a khoản 2 Điều 255. Do vậy, việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội danh, điều khoản trên là đúng người, đúng pháp luật.
Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm. Hoàng Đình H là người khởi xướng, bỏ tiền ra để Q đi mua ma túy, chuẩn bị địa điểm, công cụ sử dụng ma túy nên giữ vai trò thứ nhất; Phạm Ngọc Q trực tiếp đi mua ma túy về sử dụng nên giữ vai trò thứ hai; Vũ Công T sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng chưa đủ cấu thành tội phạm, cơ quan Công an đã xử phạt hành chính là phù hợp.
Về tính chất, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng trật tự trị an xã hội, cần thiết áp dụng loại hình phạt tù mới có tác dụng răn đe phòng ngừa chung, riêng. Bị cáo H tuy đã từng được địa phương tặng giấy khen về tinh thần tự nguyện xung phong bảo vệ tổ quốc, nhưng sau đó lại có hành vi phạm tội, chờ bị xét xử phúc thẩm về hành vi phạm tội khác, nay lại tiếp tục tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Q có bố được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo H, đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử về tội: Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng, theo bản án số 22/2025/HS-ST ngày 13/03/2025. Sau đó, TAND cấp cao tại Hà Nội xử phúc thẩm theo Bản án số 226/2025/HS-PT ngày 28/08/2025 không chấp nhận kháng cáo của H, y án sơ thấm xử phạt H 01 năm 03 tháng tù, được trừ 02 tháng 27 ngày tạm giữ, tạm giam-còn phải chấp hành 01 năm 03 ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án và đã bị Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng ra Quyết định thi hành hình phạt tù số 636/2025/QĐ-CA ngày 20/10/2025 thi hành bản án trên, mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này. Do vậy, HĐXX căn cứ Điều 55, 56 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử và tổng hợp hình phạt đối với bản án bị cáo đang phải chấp hành.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, số mẫu hoàn lại cho giám định (Gồm 01 túi ni lông; 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ bao gói mẫu trong niêm phong số 863MT-A/PC09; 01 chai nhựa Number 1, 01 bật lửa ga tịch thu cho tiêu hủy, 02 điện thoại quản lý của Q và H sử dụng vào việc phạm tội, tịch thu phát mại, sung công.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về tội danh: Căn cứ Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Hoàng Đình H, Phạm Ngọc Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
2/ Về hình phạt:
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo HOÀNG ĐÌNH H.
Xử phạt bị cáo Hoàng Đình H 07 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 01 năm 03 ngày tù về tội Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng, tại bản án hình sự phúc thẩm số 226/2025/HS-PT ngày 28/08/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 năm 06 tháng 03 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/09/2025.
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đối với bị báo Phạm Ngọc Q.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Q 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/09/2025.
3/Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hoàng Đình H, Phạm Ngọc Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4/Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
Tịch thu cho tiêu hủy: 02(Hai) bì niêm phong số 863 MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Hải Phòng, mẫu và hoàn lại sau giám định còn nguyên vẹn (Bên trong có một túi nilon, 01 cóong thủy tinh, 02 vỏ bì); 01(Một) Chai nhựa nhãn, hiệu number 1; 01 (Một) bật lửa ga.
Tịch thu phát mại, sung công: 01(Một) điện thoại di động Vivo màu xanh đen (biên bản ban đầu ghi điện thoại màu xám) không kiểm tra được IMEI, gắn sim số 0384753477; 01(Một) điện thoại di động samsung và mầu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra được IMEI, gắn sim số 0985595822.
(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Hải Phòng và có đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an thành phố Hải Phòng và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Hải Phòng).
5/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Viện kiểm sát nhân dân KV12; - Viện kiểm sát nhân dân TP Hải Phòng; - Cơ quan Điều tra Công an TP Hải Phòng; - Cơ quan Thi hành án hình sự TP Hải Phòng; - Cơ quan Thi hành án dân sự KV12; - UBND xã T, TP Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP Tòa án KV12. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thế Hưng |