vanban.org

Bản án 14/2025/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 28/04/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/04/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HSST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn H - Tổ chức SD trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HSPT
Ngày: 28/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Bạch Thị Hồng Hoa

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Tuấn

Ông Vũ Văn Túc

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Quốc Hùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLPT - HS ngày 18/02/2025 đối với bản án số 03/2025/HSST ngày 09/01/2025 của TAND huyện Y, tỉnh Hòa Bình, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn H, tên gọi khác: Không , sinh ngày 17 tháng 11 năm 1988. Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hoà Bình. Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Nguyễn Văn Triệu và bà Nguyễn Thị Là có vợ là Nguyễn Thị Dung (đã ly hôn) và 01 con, 11 tuổi.

Tiền án:

+ Ngày 24/3/2022 Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Hoà Bình xét xử 09 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ. (theo bản án số 09/2022/HSST ngày 24/3/2022). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/7/2022.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 25/02/2016, Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xử 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 04/12/2015 (Theo Bản án số 10/2016/HSST), (đã được xoá án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ từ 20/6/2024 đến nay. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.

Các bị cáo không kháng cáo: Trần Tuấn A; Bùi Thanh S.

Người bào chữa cho bị cáo không kháng cáo: Ông Bùi Quang Ng - Trợ giúp

viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không triệu tập:

+ Bà Vương Thị H; chị Nguyễn Thị Kh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h ngày 19/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Bùi Thanh S nhắn tin vào số điện thoại 0971782854 của Nguyễn Văn H với nội dung “có gì không” mục đích là hỏi H có ma tuý không để sử dụng, H đồng ý và đã gọi điện thoại đến số 0375551854 của Trần Tuấn A để hỏi mua ma tuý đá với số tiền 300.000 đồng, Tuấn A đồng ý rồi bảo H đi đến khu vực cửa hàng xăng dầu gần chợ Mía để lấy. Tuấn A sau khi nhận lời bán ma tuý cho H đã cầm 01 gói giấy có chứa ma tuý đá và điều khiển xe ô tô BKS: 28C-006.47 mang ma tuý đến khu vực cửa hàng xăng dầu đường Hồ Chí Minh gần khu vực chợ Mía thuộc xã Yên Nghiệp, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình để bán cho H. Do H không có phương tiện đi lại nên đã gọi điện bảo S lên nhà đón để cùng đi mua ma tuý về sử dụng. S đồng ý và chuẩn bị 01 (một) chai nhựa ghi chữ Number 1 (bên trong có chứa nước), chai nhựa có nắp màu vàng (đã đục sẵn 02 lỗ), S bỏ vào trong túi quần để đi với mục đích để làm công cụ cho việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Đến khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày, S điều khiển xe mô tô BKS: 39F4-7672 đi đến nhà H. Khi đến nhà H, thấy H đang đứng trước cửa nhà thì S hỏi: “Có đồ chưa” (ý là có bộ công cụ sử dụng ma tuý đá chưa), nghe vậy thì H lấy từ trong túi quần ra 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 ống hút bằng nhựa màu xanh, 01 chiếc cóng bằng thuỷ tinh, 01 chiếc bật lửa ga màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 đoạn ống bằng kim loại và 01 chiếc dao lam bằng kim loại cho S xem rồi lại cất vào túi quần. Sau đó, S chở H đi theo hướng huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Khi đi đến đoạn đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận xóm phố Sấu, xã Lạc Thịnh, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình thì Tuấn A gọi điện thoại cho H hỏi “đi đến đâu rồi” thì H trả lời “Gần đến nơi rồi” và tiếp tục H bảo S đi đến chỗ hẹn mua ma tuý giữa H và Tuấn A. Khi đến khu vực như đã hẹn với Tuấn A thì S và H thấy có một chiếc xe ô tô tải màu trắng BKS: 28C-006.47 đang dừng đỗ ở lề đường bên trái đường Hồ Chí Minh theo hướng Yên Thuỷ đi Lạc Sơn, biết là xe ô tô của Tuấn A nên H bảo S dừng lại ở lề đường phía đối diện và H đi bộ một mình đến vị trí chiếc xe ô tô tải trên gặp Tuấn A để mua ma tuý đá. Khi đến nơi, H đứng bên cạnh cửa lái và đưa số tiền 300.000 đồng qua cánh cửa kính (đã hạ kính) cho Tuấn A đang ngồi trong xe và Tuấn A đưa lại cho H 01 (một) gói giấy bạc màu vàng (bên trong có ma tuý đá). Sau khi cầm ma tuý xong, H quay lại vị trí S đang đợi và nói: “Được rồi, đi về thôi”. Sau đó S điều khiển xe mô tô chở H ngồi sau đi về, khi đến khu vực đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận khu phố T, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hoà Bình thì H bảo S rẽ trái đi vào khu vực bãi rác để sử dụng ma tuý.

Khi đến khu vực bãi rác, S dừng xe lại sau đó H lấy từ trong túi quần ra một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm: 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh, 01 cóng bằng thuỷ tinh, 01 chiếc dao lam bằng kim loại, 01 chiếc bật lửa ga màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 ống kim loại (đầu đốt), đồng thời S cũng lấy ra ở trong túi quần 01 chai nhựa bên trong có nước. Sau đó S lấy điện thoại soi đèn cho H lắp thành bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá. Sau khi lắp ghép xong, H lấy số ma tuý vừa mua được của Tuấn A cho vào cóng thuỷ tinh, lúc này tay H cầm ống hút cho vào miệng, còn S một tay giữ chai nước, một tay cầm bật lửa đốt cóng cho H hút ma tuý vào trong cơ thể qua đường miệng. Sau khi hợp hút xong thì H lại đốt cho S hút và ngược lại, cả S và H giúp nhau cùng sử dụng ma tuý đá mỗi người được khoảng 2 đến 3 lần. Trong khi S và H đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì lực lượng Công an đến phát hiện và thu giữ vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia G21, kiểu máy TA-1418, có gắn sim số: 0988704416, 0943501316, điện thoại cũ đã qua sử dụng. (Điện thoại của S). 01 (một) xe mô tô BKS: 39F4-7672, xe cũ đã qua sử dụng. 01 (một) chai nhựa màu vàng có ghi chữ Number 1, có nắp nhựa màu vàng, được đủng thủng 02 lỗ, phía trên nắp chai có gắn 1 ống hút màu xanh và 1 chiếc cóng bằng thuỷ tinh (đã bị vỡ). 01 (một chiếc bật lửa ga màu trắng có gắn 1 đoạn ống kim loại, đã qua sử dụng. 01 (một chiếc bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng. 01 (một) dao lam bằng kim loại, cũ đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, loại phím bấm, điện thoại cũ đã qua sử dụng có găn sim số 0971782854, 0355687000. (Điện thoại của H) Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã tiến hành lập biên bản làm việc và niêm phong các vật chứng đã thu giữ theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 318/KL-KTHS ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hoà Bình kết luận:

“Chất bột màu trắng bám dính trên các mảnh vỡ thuỷ tinh trong phong bì 01, một mặt có ghi “Phong bì niêm phong các mảnh vỡ của chiếc Cóng có bám dính chất bột màu trắng, các đối tượng Bùi Thanh S và Nguyễn Văn H dùng để sử dụng ma tuý ngày 19/6/2024 tại khu phố T, TT. H, huyện Y, tỉnh Hoà Bình” gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Chất bột màu trắng quá ít, không xác định được khối lượng.

- 04 viên nén mầu nâu ký hiệu M1 trong hộp 01, một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ nghi là ma tuý tại nhà, chỗ ở của Trần Tuấn A thuộc phố L2, VB, Lạc Sơn, Hoà Bình ngày 20/6/2024” gửi giám định có tổng khối lượng 2,11g (Hai phẩy mười một gam), là ma tuý, loại MDMA.

- Cục tinh thể màu trắng ký hiệu M2 trong hộp 01, một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ nghi là ma tuý tại nhà, chỗ ở của Trần Tuấn A thuộc phố L2, VB, Lạc Sơn, Hoà Bình ngày 20/6/2024” gửi giám định có khối lượng 0,03g (không phẩy không ba gam), là ma tuý, loại Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng bám dính trong 02 túi nilon ký hiệu M3, M4 trong hộp 01, một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ nghi là ma tuý tại nhà, chỗ ở của Trần Tuấn A thuộc phố L2, VB, Lạc Sơn, Hoà Bình ngày 20/6/2024” gửi giám định, là ma tuý, loại Methamphetamine. Chất tinh thể màu trắng quá ít, không xác định được khối lượng.

Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

MDMA năm trong danh mục IB, số thứ tự: 11, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.”

Ngày 02/7/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Hoà Bình trưng cầu giám định mẫu chất lỏng trong chai nhựa là vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 5044/KL-KTHS ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện Khoa học hình sự Bộ công an kết luận: “Tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine ở dạng vết trong mẫu chất lỏng gửi giám định; Thể tích mẫu: 240,0 ml. Ghi chú: “Dạng vết” nghĩa là lượng Methamphetamine trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp, không xác định được khối lượng Methamphetamine có trong mẫu.”.

Ngày 02/7/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Hoà Bình trưng cầu giám định mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn H và Bùi Thanh S. Tại Kết luận giám định số 5045/KL-KTHS ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Đều tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong chai nhựa ghi “Mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn H” và trong chai nhựa ghi “Mẫu nước tiểu thu của Bùi Thanh S” gửi giám định.”

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HSST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã quyết định:

Căn cứ khoản 1, Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 20 tháng 6 năm 2024.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng, và quyền kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ngày 17/01/2025 bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung kháng cáo: Bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Tại phiên tòa sơ thẩm đã có bản bào chữa cho bị cáo, đề nghị giữ nguyên các nội dung đã trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo kháng cáo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo:

Nguyễn Văn H và Bùi Thanh S là những người nghiện ma túy, khoảng 22 giờ ngày 19/6/2024 Bùi Thanh S đã chủ động nhắn tin hỏi và rủ H có ma túy không để sử dụng. H gọi điện cho Trần Tuấn A để mua 300.000đ ma túy đá. Bùi Thanh S sử dụng xe mô tô chở Nguyễn Văn H đến khu vực cửa hàng xăng dầu đường Hồ Chí Minh gần khu vực chợ Mía, xã Yên Nghiệp, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình để mua ma túy. Tại đây H mua được 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa ma túy đá loại Methamphetamine với giá tiền 300.000đ.

Sau khi mua được ma túy, Sơn điều khiển xe mô tô chở H đến khu phố T, thị trấn H thì rẽ vào khu vực bãi rác. H và S lấy các dụng cụ đã chuẩn bị sẵn và số ma túy vừa mua được. S lấy điện thoại soi đèn cho H lắp thành bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá. Sau khi lắp ghép xong, H lấy số ma tuý vừa mua cho vào cóng thuỷ tinh, H cầm ống hút cho vào miệng, còn S một tay giữ chai nước, một tay cầm bật lửa đốt cóng cho H hút ma tuý vào trong cơ thể qua đường miệng. Sau khi H hút xong thì H lại đốt cho S hút và ngược lại, cả S và H cùng giúp nhau sử dụng ma tuý đá mỗi người được khoảng 2 đến 3 lần thì bị phát hiện và bắt giữ.

Bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Thanh S là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hiểu biết việc tổ chức trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do là người nghiện ma túy vì vậy các bị cáo cùng nhau tìm mua Methamphetamine, cùng chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy sau đó giúp sức nhau sử dụng, kết quả giám định xác định số ma túy còn lại trong các công cụ sử dụng bị thu giữ là Methamphetamine, kết quả giám định nước tiểu của Nguyễn Văn H và Bùi Thanh S đều tìm thấy chất ma túy Methamphetamine.

Với các nội dung trên, Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn H có 01 tiền án, ngày 24/3/2022 Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình xét xử 09 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ. (theo bản án số 09/2022/HSST ngày 24/3/2022). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/7/2022. Theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự bị cáo chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ là ông Nguyễn Văn Triệu là người có công với cách mạng (Được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba), gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự căn cứ điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự, được cấp sơ thẩm áp dụng. Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 30 tháng tù là phù hợp với hành vi bị cáo thực hiện và nhân thân của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới để xét giảm nhẹ hình phạt, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm, phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị cáo kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H.

2. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HSST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Căn cứ khoản 1, Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ