vanban.org

Bản án 14/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế Tuyên án 31/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2024/HS-ST
Ngày: 31-01-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Đào Vi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Nam.

Bà Võ Thị Phương Thảo.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Bảo Lâm, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số 11 đường Tôn Đức Thắng, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 96/2023/TLST-HS ngày 31/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 15/01/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Hồng H, sinh ngày: 09/5/1971, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: số 01/26 đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Hồng Q, sinh năm: 1942 và bà: Nguyễn Thị S, sinh năm: 1942; có vợ: Hà Thị H, sinh năm 1975; con: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/12/2022 đến ngày 20/12/2022, được thay thế biện pháp ngăn chặn sang Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Bùi Ngọc D (tên gọi khác: N), sinh ngày: 10/01/1986, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: số 75 đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không, trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Bùi Văn V, sinh năm 1952 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1958; có vợ: Nguyễn Kim Như N, sinh năm 1988; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/12/2022 đến ngày 20/12/2022, được thay thế biện pháp ngăn chặn sang Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Hải H, sinh năm 2001; nơi cư trú: 10 N, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

2. Anh Phan S; sinh năm: 1986; nơi cư trú: 06/75 A, phường B, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

3. Anh Trần Văn C; sinh năm: 2001; nơi cư trú: Thôn G, xã G, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Thanh P; sinh năm: 2000; nơi cư trú: Tổ M, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

2. Anh Trần Văn T; sinh năm: 1983; nơi cư trú: 07/127 H, phường P, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

3. Ông Châu Văn C; sinh năm: 1973; nơi cư trú: 24/25 T, phường B, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Huy H; sinh năm: 1993; nơi cư trú: 31 H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

5. Anh Lê Văn T; sinh năm: 1998; nơi cư trú: 10A/24 T, phường B, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

6. Anh Trương Quốc B; sinh năm: 1971; nơi cư trú: Tổ B, khu vực C, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

7. Anh Nguyễn Thanh S; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Kiệt 85 hẻm 20 A; phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

8. Ông Nguyễn Khoa Q; sinh năm: 1972; nơi cư trú: 155A A, phường B, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

9. Anh Nguyễn Thiện Anh C; sinh năm: 1997; nơi cư trú: 30 kiệt 187 H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

10. Ông Nguyễn Ái L; sinh năm: 1976; nơi cư trú: 44 A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 15 phút ngày 10/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế đã tiến hành kiểm tra tại quán cà phê ở số 41đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế do Phạm Hồng H quản lý, phát hiện và bắt quả tang Bùi Ngọc D đang có hành vi tổ chức đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá cho 12 đối tượng đánh bạc ở giải bóng đá Word cup 2022 được, thua bằng tiền trên mạng internet nhằm thu lợi bất chính.

Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D đã khai nhận như sau:

Khoảng thời gian cuối tháng 8/2022, bị cáo Phạm Hồng H liên hệ với đối tượng tên “Ch” ở thành phố Huế (chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể) và nhận 02 tài khoản cá cược KB2D0904001 và KB2D0904002 thông qua trang web: elo88.com với mỗi tài khoản có 2.000 đô, thỏa thuận 01 đô 50.000 đồng với mục đích dùng để tổ chức đánh bạc và đánh bạc thông qua hình thức cá độ bóng đá. Tiền hoa hồng mà H nhận được từ đối tượng “Ch” đối với bóng đá là 1,2% trên tổng số đô đặt cược. Sau khi nhận các tài khoản, để thực hiện cho việc tổ chức đánh bạc H đã sử dụng mặt bằng ở 41đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế do mình quản lý rồi lắp đặt các thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc và tổ chức đánh bạc tại quán cà phê do mình quản lý như mạng internet, máy tính để bàn, tivi, điện thoại có kết nối Wifi,...Tiếp đó, H thuê Bùi Ngọc D về làm việc tại quán, tiền công H trả cho D mỗi tháng là 7.000.000 đồng; nhiệm vụ của D là quản lý 02 tài khoản cá cược và trực tiếp ghi kèo, nhận tiền, thanh toán tiền thắng, thua của khách đến đánh bạc sau đó báo lại cho H. H yêu cầu D khi ghi cho khách đến đánh bạc thì quy ước 01 đô là 50.000 đồng. Việc thanh toán tiền thắng, thua với khách đánh bạc được thực hiện ngay tại quán; đối với việc thành toán tiền thắng, thua với cấp trên do H thực hiện vào ngày thứ 2 hàng tuần và trả trực tiếp bằng tiền Việt Nam.

Căn cứ tài liệu, dữ liệu trích xuất chi tiết từ 02 tài khoản đã thu thập được xác định trong khoảng thời gian từ ngày 02/12/2022 đến ngày 10/12/2022, bị cáo Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D đã đồng phạm cùng nhà cái tổ chức đánh bạc qua mạng internet, cụ thể như sau:

- Đối với tài khoản KB2D0904001:

Tài khoản này trong ngày 10/12/2022, H và D tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên (12 người), có 24 trận với tổng số 124 lượt đánh bạc, tổng số đô đặt cược là 2.100 đô, thắng 148,18 đô, thua 142,01 đô.

Do đó, Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D đã cùng nhà cái tổ chức đánh bạc trên tài khoản này số tiền là: 2.100 đô x 50.000 đồng = 105.000.000 đồng. Trong đó có 01 lượt trận (trận giữa Bồ Đào Nha và Ma Rốc) có số tiền dùng đánh bạc với tổng số tiền là 80.100.000 đồng. Ngoài ra không có lượt trận nào có số tiền dùng đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên. Vì vậy, Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc với tổng số tiền là 80.100.000 đồng.

Về thu lợi bất chính:

Tiền hoa hồng H nhận từ cấp trên: (2.100 đô x 50.000 đồng) x 1.2 % 1.260.000 đồng. Thông qua tổ chức đánh bạc, H thu lợi bất chính số tiền là: 1.260.000 đồng.

- Đối với tài khoản KB2D0904002:

Trong khoảng thời gian ngày 02/12/2022 đến ngày 10/12/2022, Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D đã tổ chức đánh bạc trên tài khoản này như sau:

Tài khoản này có 216 trận với tổng số 1.527 lượt đánh bạc, có tổng số đô đặt cược là 28.048 đô, thắng 155,28 đô, thua 468,88 đô.

Do đó, Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D đã cùng nhà cái tổ chức đánh bạc trên tài khoản này số tiền là: 28.048 đô x 50.000 đồng =1.402.400.000 đồng. Trong đó, có 20 lượt trận có số tiền dùng đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền là: 1.183.450.000 đồng; trong đó có 12 lượt trận có số tiền dùng đánh bạc từ 20.000.000 trở lên với tổng số tiền 1.118.650.000 đồng. Do không xác định được các bị cáo đã tổ chức đánh bạc cho 10 người trở lên do đó những lượt trận đánh bạc có số tiền dùng đánh bạc từ 20.000.000 trở lên thì các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc với tổng số tiền là 1.118.650.000 đồng.

Về thu lợi bất chính:

Tiền hoa hồng H nhận từ cấp trên: (28.048 đô x 50.000 đồng) x 1.2 % = 16.828.800 đồng. Thông qua tổ chức đánh bạc, H thu lợi bất chính số tiền là: 16.828.800 đồng.

Như vậy, bị cáo Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc trên 02 tài khoản này với tổng số tiền là: 80.100.000 đồng + 1.118.650.000 đồng = 1.198.750.000 đồng. (Một tỷ một trăm chín tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Thông qua tổ chức đánh bạc, bị cáo Phạm Hồng H thu lợi bất chính như sau: 1.260.000 đồng + 16.828.800 đồng = 18.088.800 đồng.

Đối với Bùi Ngọc D thu lợi bất chính từ việc Phạm Hồng H trả tiền công với số tiền 7.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị can Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D cùng các đối tượng có liên quan đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Thu giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ gồm:

- Tạm giữ tại quán cà phê của Bùi Ngọc D trong lúc bắt quả tang gồm:

+ 10 tờ tịch cá cược.

+ 01 bộ máy tính để bàn gồm: 01 màn hình HKC, 01 CPU VSP và 01

bànphím

+ 01 đầu thu K+.

+ 01 đầu ghi camera.

+ 02 thẻ nhớ.

+ 02 Tivi.

+ 01 điện thoại Iphone 11 màu đen.

+01 điện thoại Samsung.

+ Số tiền 25.000.000 đồng.

- Thu giữ của Nguyễn Thanh P: 01 tờ tịch cá cược và 01 điện thoại di động PocoM3.

- Thu giữ của Nguyễn Hải H: 01 tờ tịch cá cược và 01 điện thoại di động Samsung.

- Thu giữ của Phan S: 01 tờ tịch cá cược, 01 điện thoại di động Mobel và số tiền 600.000 đồng.

- Thu giữ của Trần Văn T: 01 tờ tịch cá cược và 01 điện thoại di động Nokia

- Thu giữ của Châu Văn C: 02 tờ tịch cá cược.

- Thu giữ của Nguyễn Huy H: 01 điện thoại di động Iphone 6.

- Thu giữ của Trần Văn C: 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn C và số tiền 300.000 đồng.

- Thu giữ của Lê Văn T: 01 điện thoại di động Redmi.

- Thu giữ của Trương Quốc B: 01 điện thoại di động Oppo.

- Thu giữ của Nguyễn Ái L: 01 điện thoại di động Samsung.

- Thu giữ của Nguyễn Thanh S: 01 điện thoại di động Oppo.

Số vật chứng trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhập vào kho vật chứng để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử theo đúng quy định của pháp luật.

Riêng các vật chứng là tài liệu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế thu giữ chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra xác định các tài sản và tiền đã thu giữ không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu gồm:

- Trả lại cho Bùi Ngọc D: 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đen.

- Trả lại cho Nguyễn Thanh P: 01 điện thoại di động PocoM3.

- Trả lại cho Nguyễn Hải H: 01 điện thoại di động Samsung.

- Trả lại cho Phan S: 01 điện thoại di động Mobel.

- Trả lại cho Trần Văn T: 01 điện thoại di động Nokia.

- Trả lại cho Nguyễn Huy H: 01 điện thoại di động Iphone 6.

- Trả lại cho Trần Văn C: 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn

Cường.

- Trả lại cho Lê Văn T: 01 điện thoại di động Redmi.

- Trả lại cho Trương Quốc B: 01 điện thoại di động Oppo.

- Trả lại cho Nguyễn Ái L: 01 điện thoại di động Samsung.

- Trả lại cho Nguyễn Thanh S: 01 điện thoại di động Oppo.

Tại bản Cáo trạng số 61/CT-VKS-P2 ngày 30/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố các bị cáo Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 322, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Hồng H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Phạt bổ sung từ 20 triệu đến 30 triệu đồng.

+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1, khoản 2 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Ngọc D từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu sung công

- 01 (một) bộ máy tính gồm: 01 màn hình HKC, 01 CPU VSP và 01 bàn phím.

- 02 (hai) Tivi.

- 01 (một) điện thoại Samsung, tạm giữ từ Bùi Ngọc D ũng.

- Số tiền 25.000.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Samsung, tạm giữ từ Nguyễn Hải H.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 ( một) đầu thu K+

- 01 (một) đầu ghi camera

- 02 (hai) thẻ nhớ

Trả lại cho Phan S:

- Số tiền 600.000 đồng.

Trả lại cho Trần Văn C:

- Số tiền 300.000 đồng.

Buộc bị cáo Phạm Hồng H phải nộp số tiền 18.088.800 đồng, bị cáo Bùi Ngọc D phải nộp số tiền 7.000.000 đồng, để sung công quỹ Nhà nước.

Buộc các bị các phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

. Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian ngày 02/12/2022 đến ngày 10/12/2022 tại tỉnh Thừa Thiên Huế, sau khi nhận tài khoản cá cược KB2D0904001 và KB2D0904002 từ cấp trên thông qua trang web: elo88.com, Phạm Hồng H đã thuê Bùi Ngọc D về làm việc tại quán cà phê ở số 41đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế với mục đích là để tổ chức cho người khác đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá được, thua bằng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhằm thu lợi bất chính từ việc hưởng tiền hoa hồng.

Tổng số tiền mà bị cáo Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D phải chịu trách nhiệm hình sự, về tội: “Tổ chức đánh bạc” là: 1.198.750.000 đồng. (Một tỷ một trăm chín tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Thông qua tổ chức đánh bạc, bị cáo Phạm Hồng H thu lợi bất chính số tiền 18.088.800 đồng.

Đối với Bùi Ngọc D thu lợi bất chính từ việc Phạm Hồng H trả tiền công với số tiền 7.000.000 đồng.

Hành vi sử dụng mạng Internet, máy tính của các bị cáo để tổ chức đánh bạc là hành vi vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng các bị cáo vì hám lợi đã bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội.

Với hành vi nêu trên bị cáo Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật hình sự;

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D đều là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được hành vi tổ chức đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì coi thường pháp luật nên vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ trong một thời gian ngắn, số tiền mà các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc là rất lớn, đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, góp phần làm gia tăng các hành vi vi phạm pháp luật khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức phạt nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, bị cáo Phạm Hồng H là người đứng ra tổ chức và điều hành hoạt động Tổ chức đánh bạc; bị cáo Bùi Ngọc D là đồng phạm giúp sức cùng với H để thực hiện hành vi Tổ chức đánh bạc. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tang số như đã nêu trên, bị cáo Phạm Hồng H với vai trò tổ chức phải chịu trách nhiệm chính, bị cáo Bùi Ngọc D là đồng phạm giúp sức cho H nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với mức độ về hành vi đồng phạm tổ chức đánh bạc.

. Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra các bị cáo đều là con thương binh, riêng bị cáo Phạm Hồng H đã tự nguyện ra đầu thú nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng: Phạm tội hai lần trở lên, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

. Về biện pháp chấp hành hình phạt:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần áp dụng hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục các bị cáo. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật và đấu tranh phòng ngừa tội phạm; đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Cần xem xét để áp dụng mức hình phạt tù đối với các bị cáo để cách ly khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo cơ hội cho các bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

Đồng thời cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Hồng H.

.Về biện pháp tư pháp, cần buộc:

- Bị cáo Phạm Hồng H phải nộp số tiền thu lợi bất chính với tổng số tiền 18.088.800 đồng.

- Bị cáo Bùi Ngọc D phải nộp số tiền thu lợi bất chính thông qua việc nhận tiền công với tổng số tiền 7.000.000 đồng.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với các phương tiện công cụ các bị cáo đã sử dụng để liên lạc với nhau và thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, gồm:

- 01 (một) bộ máy tính gồm: 01 màn hình HKC, 01 CPU VSP và 01 bàn phím.

- 02 (hai) Tivi.

- 01 (một) điện thoại Samsung, tạm giữ từ Bùi Ngọc D.

- Số tiền 25.000.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Samsung, tạm giữ từ Nguyễn Hải H.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 ( một) đầu thu K+

- 01 (một) đầu ghi camera

- 02 (hai) thẻ nhớ

Trả lại cho Phan S:

- Số tiền 600.000 đồng.

Trả lại cho Trần Văn C:

- Số tiền 300.000 đồng.

. Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng H và bị cáo Bùi Ngọc D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

[2]. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Hồng H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 11/12/2022 đến ngày 20/12/2022.

Phạt bổ sung đối với Phạm Hồng H, về tội “Tổ chức đánh bạc” số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng chẵn).

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1, khoản 2 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc D 10 (mười) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 11/12/2022 đến ngày 20/12/2022.

[3]. Về tiền thu lợi bất chính: Các bị cáo phải nộp số tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước như sau:

- Buộc bị cáo Phạm Hồng H phải nộp số tiền 18.088.800 đồng;

- Buộc bị cáo Bùi Ngọc D phải nộp số tiền 7.000.000 đồng;

[4]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

- 01 (một) bộ máy tính gồm: 01 màn hình HKC, 01 CPU VSP và 01 bàn phím.

- 02 (hai) Tivi.

- 01 (một) điện thoại Samsung, tạm giữ từ Bùi Ngọc D.

- Số tiền 25.000.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại Samsung, tạm giữ từ Nguyễn Hải H.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) đầu thu K+

- 01 (một) đầu ghi camera

- 02 (hai) thẻ nhớ.

Trả lại cho Phan S:

- Số tiền 600.000 đồng.

Trả lại cho Trần Văn C:

- Số tiền 300.000 đồng.

(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế và Ủy nhiệm chi lập ngày 08/12/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế gửi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế).

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 135, Điều 136, điểm e khoản 3 Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Buộc các bị cáo Phạm Hồng H và Bùi Ngọc D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

[6]. Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ