vanban.org

Bản án 14/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 01/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Phúc L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma

túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Phúc L 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phúc L - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phúc L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THUỶ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày: 01-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Hoàng Ân

2. Bà Trần Thị Bé Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hol - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang tham

gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 6 năm 2023, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị

Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2023/TLST-HS, ngày 11 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023, đối với:

Bị cáo Trần Phúc L, sinh năm 1994, tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu

Giang; nơi cư trú: ấp T, xã H, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn X và bà Phan Thị Ph; anh chị em ruột có 02 người; sống như vợ chồng với chị Nguyễn Hằng N và có 01 người con sinh năm 2020; tiền án: 01 (Ngày 21/11/2013 bị Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử về Tội cướp giật tài sản, chưa bồi thường trách nhiệm dân sự); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 13/01/2023 bị Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tuyên phạt 27 năm tù. Hiện nay, bị cáo đang thi hành bản án số 03/2023/HS-ST ngày 13/01/2023 của TAND tỉnh Hậu Giang tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vị Thủy. có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Nguyễn Văn B, sinh năm 1989

Nơi cư trú: Khu vực X, Phường 1, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Có mặt.

+ Lê Văn H, sinh năm 1988

Nơi cư trú: Ấp X, xã VĐ, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

+ Trần Đăng P, sinh năm 1999

Nơi cư trú: Khu vực X, phường 3, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Có mặt.

+ Nghiêm Xuân Thịnh Q, sinh năm 2001

Nơi cư trú: Khu vực X, Phường 1, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Có mặt.

+ Nguyễn Văn L, sinh năm 1995

Nơi cư trú: Ấp X, xã VĐ, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

+ Trần Minh T, sinh ngày 02/7/ 2005

Nơi cư trú: Khu vực X, Phường Lái Hiếu, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu

Giang. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Hồng M, sinh năm 1985

Địa chỉ: Khu vực X, Phường Lái Hiếu, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

Vắng mặt.

+ Nguyễn Phú Q, sinh năm 1998

Địa chỉ: Khu vực X, Phường 4, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Có

mặt.

+ Mai Văn T, sinh năm 1991

Nơi cư trú: Ấp X, xã VT, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Có đơn yêu cầu

xét xử vắng mặt.

+ Lê Minh L, sinh năm 1984

Nơi cư trú: Ấp T, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu

Giang. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào Kế hoạch số 27/KH-PC10 ngày 23/10/2022 của Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (PC10) Công an tỉnh Hậu Giang (Kế hoạch phối hợp kiểm tra đột xuất Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang). Vào các ngày 24 và 25/10/2022 Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và các đơn vị nghiệp vụ Công an tỉnh có liên quan tiến hành kiểm tra các buồng tạm giam thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang. Kết quả Đoàn kiểm tra phát hiện 08 người bị tạm giam dương tính với các chất ma túy gồm: Trần Phúc L, sinh năm 1994, đăng ký thường trú: ấp T, xã Hỏa Lựu, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (Tạm giam buồng số 7C3-Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy); Nguyễn Văn B, sinh năm 1989, đăng ký thường trú: khu vực X, Phường 1, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (Tạm giam buồng số 1C3-Tội cố ý gây thương tích), Lê Văn H, sinh năm 1988, đăng ký thường trú: ấp X, xã Vị Đông, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang (Tạm giam buồng số 2C3-Tội cố ý gây thương tích); Trần Đăng P, sinh năm 1999, đăng ký thường trú: khu vực X, Phường 3, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (Tạm giam buồng số 8C3-Tội cố ý gây thương tích); Nghiêm Xuân Thịnh Q, sinh năm 2001, đăng ký thường trú: khu vực X, Phường 1, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (Tạm giam buồng số 8C3-Tội cố ý gây thương tích); Nguyễn Văn L, sinh năm 1995, đăng ký thường trú: ấp X, xã VĐ, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang (Tạm giam buồng số 8C3-Tội cố ý gây thương tích); Trần Minh T, sinh năm 2005, đăng ký thường trú: khu vực X, Phường Lái Hiếu, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (Tạm giam buồng số 6C1-Tội cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng); Nguyễn Phú Q, sinh năm 1998, đăng ký thường trú: khu vực X, Phường 4, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (Tạm giam buồng số 6C1-Tội cố ý gây thương tích).

Trong quá trình kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã phát hiện và thu giữ các chất nghi là ma túy như sau:

* Tại buồng tạm giam số 8C3: 01 viên nén màu xám, hình tròn có ký hiệu hoa văn (đã được niêm phong).

* Tại buồng tạm giam số 6C1: 01 bịch ny lon màu trắng bên trong có chứa tinh thể (đã được niêm phong).

Qua điều tra xác minh ban đầu những người bị tạm giam dương tính với chất ma túy như: Trần Phúc L, Nguyễn Văn B, Lê Văn H, Trần Đăng P, Nghiêm Xuân Thịnh Q, Nguyễn Văn L, Trần Minh T, Nguyễn Phú Q thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy loại thuốc lắc và khay trong các buồng tạm giam thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang. Đồng thời, những người bị tạm giam nêu trên cũng khai nhận các chất nghi là ma túy mà Đoàn kiểm tra thu giữ tại buồng tạm giam số 8C3 là ma túy loại thuốc lắc và buồng tạm giam 6C1 là ma túy loại khay.

Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” xảy ra trong Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang. Ngày 02/11/2022, Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh Hậu Giang đã chuyển nguồn tin về tội phạm trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hậu Giang tiến hành điều tra, xác minh làm rõ theo quy định của pháp luật.

Qua quá trình điều tra, xác minh Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hậu Giang đã làm rõ được nội dung vụ án như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 23/10/2022, trong buồng tạm giam số 7C3 thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang, có những người bị tạm giam gồm: Trần Phúc L, Nguyễn Văn B, Nguyễn Các Lơ, Lê Văn H và Đoàn Minh K. Lúc này, L la lên rủ những người bị tạm giam ở các buồng tạm giam khác của dãy C3 qua buồng tạm giam của L để chơi. Khi đó những người bị tạm giam ở buồng tạm giam số 8C3 gồm: Nguyễn Văn L, Trần Đăng P, Nghiêm Xuân Thịnh Q được cán bộ quản giáo tên Lê Minh L mở cửa cho tắm nắng và nhặt rác bên ngoài buồng tạm giam nên xin cán bộ quản giáo Lý cho qua buồng tạm giam số 7C3 để chơi và được cán bộ Lý đồng ý và mở cửa buồng tạm giam số 7C3 cho Nguyễn Văn L, Trần Đăng P, Nghiêm Xuân Thịnh Q vào. Khi vào buồng 7C3 thì mọi người gồm: Trần Phúc L, Nguyễn Văn B, Nguyễn Các Lơ, Lê Văn H, Đoàn Minh K, Nguyễn Văn L, Trần Đăng P, Nghiêm Xuân Thịnh Q pha cà phê uống và nói chuyện, đùa giỡn với nhau. Được một lúc thì đến giờ cán bộ phát cơm chiều. Sau giờ phát cơm những người bị tạm giam gồm Long, Phát, Quí tiếp tục xin cán bộ Lý cho ở lại buồng tạm giam 7C3 ăn cơm và ngủ lại qua đêm đến sáng sẽ về buồng tạm giam 8C3. Cán bộ Lý đồng ý nên mở cửa cho Long, Phát, Quí về buồng tạm giam số 8C3 lấy đồ cá nhân như: khăn tắm, quần ngắn. Xong mọi người trở qua buồng tạm giam 7C3.

Đến khoảng hơn 17 giờ cùng ngày, trong lúc mọi người đang nằm chơi thì có cán bộ quản giáo tên Mai Văn T mang vào đưa cho Trần Phúc L 01 con vịt quay. Khi nhận con vịt quay L biết bên trong con vịt có ma túy vì trước đó L dùng điện thoại di động trong buồng tạm giam (điện thoại của L) điện cho 01 người bạn tên Tài (chưa rõ nhân thân), kêu Tài mua ma túy gửi vào buồng tạm giam cho L bằng cách mua ma túy nhét vào cổ của con vịt quay đem đến Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang thì gọi cán bộ tên T ra để nhận và đem vào cho L, đồng thời L kêu Tài đưa cho cán bộ T số tiền là 500.000đ (năm trăm ngàn) nói là tiền “đá, sôi” và L cho số điện thoại của T cho Tài. Do đó, khi nhận được con vịt L xé ra thì phát hiện trong cổ con vịt có 01 bịch ma túy loại Ketamine (hay còn gọi là khay), 01 bịch ma túy dạng viên MDMA (hay còn gọi là kẹo hoặc thuốc lắc). Lúc này L kêu mọi người ở cùng buồng tạm giam xé con vịt quay ra để ăn. Mọi người ngồi ăn vịt được 01 lúc thì L bày ra cho mọi người sử dụng ma túy. L lấy miếng nhựa màu trắng (giống như cái đĩa) để ma túy dạng khay lên và 05 viên ma túy dạng kẹo (hay còn gọi là thuốc lắc). L lấy 01 viên ma túy uống và hít 01 đường ma túy khay. Xong, L chuyền cho mọi người cùng sử dụng ma túy. Trong đó B sử dụng ma túy khay; Hiện, Long, Phát, Quí sử dụng nữa viên ma túy kẹo và hít ma túy khay; còn Khang và Lơ không có sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong tất cả 08 người ngủ tại buồng giam số 7C3 đến sáng ngày 24/10/2022 cán bộ quản giáo Lý đến mở cửa cho Quí, Long, Phát về buồng giam số 8C3. Một lúc sau cán bộ Lý nói có Đoàn đến kiểm tra buồng giam nên kêu một số người bị tạm giam như Nguyễn Văn B (7C3), Lê Văn H (7C3), Đoàn Minh K (7C3) và Nguyễn Văn L (8C3) dọn đồ cá nhân để chuyển buồng giam. Trong lúc này thì Trần Phúc L (7C3) phát hiện còn lại 01 viên ma túy trong số những viên ma túy đã sử dụng vào đêm 23/10/2022 nên đã lấy “nhét” qua khe hở của vách tường ngăn giữa buồng tạm giam số 7C3 và số 8C3 vì sợ bị phát hiện khi Đoàn đến kiểm tra. Trong lúc dọn đồ cá nhân bên buồng giam số 8C3 thì Long phát hiện có bịch nylon có 01 viên thuốc (không xác định được là loại gì) nằm ở khe hở giữa buồng tạm giam 7C3 và 8C3, Long tưởng là thuốc tây nên lấy để vào hộp nhựa đựng thuốc tây uống hàng ngày của Long, Phát, Quí. Sau khi dọn đồ xong Nguyễn Văn B được chuyển qua buồng tạm giam 1C3, Lê Văn H được chuyển qua buồng tạm giam 2C3, Đoàn Minh K được chuyển qua buồng tạm giam 4C3 và Nguyễn Văn L được qua buồng tạm giam số 6C3. Xong, được một lúc sau thì có Đoàn của Công an tỉnh đến kiểm tra các buồng tạm giam của dãy C3. Khi kiểm tra Đoàn đã thu giữ 01 viên nén hình tròn, màu xám nghi là ma túy trong hộp đựng thuốc tây uống hàng ngày của Long, Phát, Quí. Phòng CSĐTTP về ma túy tiến hành test nhanh ma túy những người bị tạm giam của dãy C3 thì phát hiện Trần Phúc L, Nguyễn Văn B , Lê Văn H, Nguyễn Văn L, Trần Đăng P, Nghiêm Xuân Thịnh Q dương tính với chất ma túy.

Đến ngày 25/10/2022, Đoàn công tác do Phòng thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh tiếp tục kiểm tra thì phát hiện tại buồng tạm giam số 6C1 có 02 người bị tạm giam là Trần Minh T và Nguyễn Phú Q dương tính với chất ma túy. Qua làm việc Trần Minh T và Nguyễn Phú Q thừa nhận đã “lượm” được 01 bịch ma túy loại khay (Ketamine) trên lam gió trong buồng tạm giam 6C1 trước đó khoảng 01 tháng (tức cách ngày kiểm tra 25/10/2022 khoảng 01 tháng). Cách ngày kiểm tra khoảng 4 ngày thì Quí đem ra sử dụng xong thì đem bỏ sau đó Tú lấy bịch ma túy và “vét” một ít ma túy còn lại để sử dụng và ném bịch ny lon còn dính ma túy vào 01 cái thùng nên khi kiểm tra thì bị phát hiện và thu giữ.

Qua quá trình điều tra Trần Phúc L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên phù hợp với lời khai của những người bị tạm giam khác và những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được (bút lục 12-34; 314-316).

Ngày 03/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã Trưng cầu giám định các chất thu giữ nghi là ma túy đến Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang.

Căn cứ vào Kết luận giám định số 968/KL-KTHS ngày 08/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang kết luận:

“- Mẫu ký hiệu M1: 01(một) viên nén màu xám hình tròn, có logo chữ NY, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,40950 gam, loại MDMA.

- Mẫu ký hiệu M2: Tinh thể chứa trong 01 (một) bịch ny lon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,00667 gam, loại Methamphetamine.”

Tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKS-HVT, ngày 10/4/2023 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo: Trần Phúc L về “Tội tổ chức việc sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây viết tắt là: Bộ luật Hình sự).

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, những người

tham gia tố tụng không ai có ý kiến gì về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy giữ quyền công tố tại

phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo: Trần Phúc L là đủ yếu tố cấu thành “Tội tổ chức việc sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 255 và “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử;

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản

1 Điều 52, Điều 38, 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s Điều 51, điểm h khoản 1 Điều

52, Điều 38, 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Trần Phúc L phải chấp hành

hình phạt chung của hai tội từ 09 năm 06 tháng tù đến 11 năm tù.

Phạt bổ sung bị cáo: Không.

Về vật chứng của vụ án. Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều

106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Vị Thủy,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Người có quyền L nghĩa vụ liên quan Trần Minh T đã được Tòa án triệu

tập hợp lệ nhưng vắng mặt, trước đó Tú đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ các Điều 292, 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự, để tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Xét lời khai của bị cáo Trần Phúc L tại phiên tòa đã thừa nhận toàn bộ

hành vi phạm tội đúng với nội dung bản cáo trạng, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền L nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ, từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:

[3.1] Ngày 23/10/2022 trong trại giam bị cáo L đã dùng điện thoại liên lạc

với người tên Tài kêu Tài mua ma túy gửi vào buồng tạm giam cho L bằng cách mua ma túy nhét vào cổ của con vịt quay đem đến Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang thì gọi cán bộ tên Mai Văn T ra để nhận và đem vào cho L. Sau khi nhận được vịt quay từ cán bộ T, L tổ chức cho B, Hiện, Long, Phát, Quí sử dụng trái phép chất ma túy. Theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự thì: “1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào,…”. Do đó, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn quy định về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[3.2] Trong cùng một thời gian, địa điểm bị cáo đưa trái phép chất ma túy

vào cơ thể của hai người khác là thuộc tình tiết định khung tăng nặng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Mức hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

[3.3] Về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đang tàng trữ 01 (một)

viên nén màu xám hình tròn, có logo chữ NY, là ma túy, có khối lượng: 0,40950 gam, loại MDMA (01 viên ma túy trong số những viên ma túy đã sử dụng vào đêm qua nên đã lấy nhét qua khe hở của vách tường ngăn giữa buồng tạm giam số 7C3 và buồng giam số 8C3). Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây,…: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo, đã thỏa mãn điều kiện về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ; mức hình phạt do Kiểm sát viên đề xuất đối với bị cáo, là tương xứng với hành vi, hậu quả bị cáo đã gây ra.

[4] Bị cáo nhận thức rõ hành vi mua ma túy để sử dụng là nguy hiểm cho

xã hội, bản thân bị cáo hiện nay cũng đang phải thi hành bản án số 03/2023/HS-ST ngày 13/01/2023 của TAND tỉnh Hậu Giang về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mức hình phạt 27 năm tù, nhưng bị cáo không tu sửa bản thân mà còn tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy ngay trong Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hậu quả bị cáo gây ra thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong xã hội, đồng thời gây mất an ninh trật tự trong Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang. Do đó, cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Tòa án căn cứ vào các quy định của

Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5.1] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo

thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án, ngày 21/11/2013 bị Toà

án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử về Tội cướp giật tài sản, chưa bồi thường trách nhiệm dân sự (chưa xoá án tích), nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, do đó hành vi của bị cáo được xem là tái phạm nguy hiểm, được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu hiện đang thi hành bản án 03/2023/HS-ST ngày 13/01/2023 của TAND tỉnh Hậu Giang tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vị Thủy nay lại tiếp tục phạm tội.

[6] Trong một thời gian bị cáo phạm hai tội; do đó, Toà án quyết định hình

phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội.

[7] Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về vật chứng của vụ án:

[8.1] 04 cục sạc điện thoại.; 02 tai nghe có dây, 01 tai nghe không dây; 01

cuộn dây điện màu đỏ; 01 viên nén màu xám, hình tròn có ký hiệu hoa văn (đã được niêm phong); 01 bịch ny lon màu trắng bên trong có tinh thể (đã được niêm phong). Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy, như Kiểm sát viên đề xuất là có căn cứ.

[8.2] Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, màu đen số sêri: R58R76JHPAK; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, màu xanh dương số sêri: R9HRC07RW5N; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, màu đen số sêri: R9HT60D3H5A.

[9] Đối với người tên T sử dụng số điện thoại 0702114402 để đưa ma túy vào Trại tạm giam cho Trần Phúc L để cho L và những người tạm giam khác sử dụng. Qua tra cứu dữ liệu người sử dụng số điện thoại 0702114402 có tên Võ Huỳnh Đức, sinh năm 1997; ĐKTT: ấp Thị Tứ, thị trấn Một Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Qua xác minh Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tập trung lực lượng, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để tiến hành điều tra xác minh làm rõ để xử lý. Tuy nhiên, qua xác minh tên Võ Huỳnh Đức không có mặt tại địa phương nơi cư trú nên chưa làm rõ. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho L nhận dạng người qua ảnh đối với Võ Huỳnh Đức và 16 người có tên Tài chấp hình án phạt tù chung với L tại Trại giam Thạnh Hòa - Bộ Công an nhưng L vẫn không xác định được tên Tài - Người đưa ma túy vào cho L. Do đó, chưa tìm ra người tên Tài đã cung cấp ma túy cho L. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.

[10] Đối với những người sử dụng ma túy trong Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang như: Nguyễn Văn B, Lê Văn H, Nguyễn Văn L, Trần Đăng P, Nghiêm Xuân Thịnh Q, Trần Minh T và Nguyễn Phú Q chưa đủ cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự về các tội ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đề nghị Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Hậu Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người sử dụng trái phép chất ma túy nói trên là có căn cứ.

[11] Đối với hành vi của 02 cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang là Mai Văn T và Lê Minh L đã vi phạm các quy định về công tác tạm giữ, tạm giam. Giám đốc Công an tỉnh Hậu Giang đã ra Quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức “Tước danh hiệu Công an nhân dân”. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hậu Giang đã có Công văn số 619/CV-CSĐT ngày 14/12/2022 gửi đến Cơ quan điều tra-VKSND Tối cao để tiếp nhận, điều tra xử lý theo thẩm quyền. Cơ quan điều tra-VKSND Tối cao đã tiếp nhận thụ lý hồ sơ xác minh làm rõ mức độ vi phạm của 02 cán bộ Lý và T.

[12] Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Buộc bị cáo phải chịu án phí số tiền là 200.000đ.

[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s

khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 32, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 293, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Phúc L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma

túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Phúc L 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái

phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt: Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo

Trần Phúc L phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 11 (Mười một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố

tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy gồm: 04 cục sạc điện thoại.; 02 tai nghe có dây, 01 tai

nghe không dây; 01 cuộn dây điện màu đỏ; 01 viên nén màu xám, hình tròn có ký hiệu hoa văn (đã được niêm phong); 01 bịch ny lon màu trắng bên trong có tinh thể (đã được niêm phong)

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy

A12, màu đen số sêri: R58R76JHPAK; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, màu xanh dương số sêri: R9HRC07RW5N; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, màu đen số sêri: R9HT60D3H5A.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/4/2023 giữa đại diện Cơ

quan Điều tra với đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136

của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Phúc L phải nộp: 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt

tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản bán, hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ