vanban.org

Bản án 14/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Thành T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thành T - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2023/HS-ST
Ngày 15- 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Long Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Tố.

Bà Phạm Hoàng Diễm My.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Đỗ Thành T, sinh ngày 19/11/1993 tại tỉnh B; nơi cư trú: Khu phố L 2, phường H, thị xã H, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ M (sinh năm 1967) và bà Trần Thị T (sinh năm 1974); vợ: Nguyễn Thị Ngọc G (sinh năm 1993) và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1- Chị Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1993 (có mặt).

2- Bà Trần Thị T, sinh năm 1974 (có mặt).

Đồng trú tại: Khu phố L 2, phường H, thị xã H, tỉnh B.

- Người làm chứng:

Ông Đỗ M, sinh năm: 1967 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Khu phố L 2, phường H, thị xã H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 11/2022, Đỗ Thành T nảy sinh ý định mua Pháo hoa nổ và Pháo nổ để bán kiếm tiền lời. Thật sử dụng tài khoản Facebook “Thật Thành” truy cập mạng xã hội Facebook tìm kiếm và phát hiện có một tài khoản Facebook tên nước ngoài (T không nhớ tên tài khoản) rao bán Pháo hoa nổ và Pháo nổ.

T sử dụng ứng dụng Messenger nhắn tin với tài khoản nêu trên, đặt mua: 04 khối hộp Pháo hoa nổ, mỗi khối hộp có kích thước (16,5x16,5 x10)cm, bọc giấy in hình hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp chứa 49 ống giấy hình trụ tròn liên kết với nhau, giá 500.000 đồng/hộp; 01 khối hộp Pháo hoa nổ, có kích thước (14x14x12,5)cm, bọc giấy in hình hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong có 36 ống giấy hình trụ tròn được liên kết với nhau, giá 400.000 đồng; và 09 bịch ni lông Pháo nổ hình cầu, mỗi bịch chứa 100 quả, mỗi quả có đường kính 02cm, vỏ bằng nhựa màu xanh - đỏ - vàng với giá 100.000 đồng/bịch; tổng số tiền là 3.300.000 đồng. T nhắn địa điểm nhận hàng là Ngã ba H, thị xã H, tỉnh B, số điện thoại nhận hàng là 0368129788.

Khoảng 04 - 05 ngày sau, T nhận cuộc gọi giao hàng từ người lạ, T đến ngã ba H, gặp người đàn ông 40 tuổi, trên xe tải bước xuống (T không nhớ biển số xe và số điện thoại liên lạc). Người đàn ông giao cho T số pháo nổ và pháo hoa nổ đã đặt, nhận 3.300.000 đồng tiền hàng và 200.000 đồng tiền cước vận chuyển. T cất giấu số hàng cấm này tại nhà, ở khu phố L 2, phường H, thị xã H, tỉnh B. Sau đó, T sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook của vợ có tên “Nguyễn Thị Ngọc G” đăng bài rao bán pháo hoa nổ và pháo nổ. Ngày 18/11/2022, tài khoản Facebook tên “Nguyễn T” nhắn cho T qua tài khoản Facebook “Nguyễn Thị Ngọc G” đặt mua pháo hoa nổ và pháo nổ. T đồng ý bán: 04 khối hộp pháo hoa nổ, loại 49 ống với giá 8.000.000 đồng; 01 khối hộp pháo hoa nổ, loại 36 ống với giá 1.500.000 đồng và 500 quả pháo nổ hình cầu với giá 1.000.000 đồng, hẹn giao hàng lúc trưa ngày 21/11/2022, tại đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc khu phố N, phường H.

Sáng ngày 21/11/2022, T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 77C1-288.58 (của mẹ ruột Trần Thị T) chở theo thùng xốp, bên trong có: 04 khối hộp pháo hoa nổ, loại 49 ống; 01 khối hộp pháo hoa nổ, loại 36 ống và 500 quả pháo nổ hình cầu đến địa điểm giao hàng. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T dừng xe môtô trên đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh B thì bị tổ công tác Công an thị xã Hoài Nhơn phát hiện sự việc. Tiến hành khám xét tại nhà riêng của T, tổ công tác thu giữ 04 bịch nilon bên trong có chứa 400 quả pháo nổ hình cầu.

Tại kết luận giám định số 1780/ KL-KTHS ngày 12/12/2022, Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Đà Nẵng kết luận số vật phẩm ghi thu giữ của Đỗ Thành T là Pháo hoa nổ và Pháo nổ có tổng khối lượng 9,45kg, trong đó: 7,35kg Pháo hoa nổ và 2,1kg Pháo nổ.

Về vật chứng, Cơ quan điều tra tạm giữ: 9,19 kg Pháo hoa nổ và Pháo nổ còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh ngọc, có số IMEI 1 là 867695057655473 và IMEI 2 là 867695057655465.

Bản cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Đỗ Thành T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thành T khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.

- Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đỗ Thành T, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Thành T từ 12 đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 9,19 kg Pháo hoa nổ và Pháo nổ còn lại sau giám định.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh ngọc, có số IMEI 1 là 867695057655473 và IMEI 2 là 867695057655465.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thị xã Hoài Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng theo quy định của pháp luật.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung của Bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng đầu tháng 11/2022, Đỗ Thành T tìm mua tổng cộng 9,45kg Pháo nổ gồm 05 hộp Pháo hoa nổ có tổng khối lượng là 7,35kg và 09 bịch Pháo nổ có tổng khối lượng 2,1kg; T cất giữ số pháo nổ trên tại nơi T sinh sống cùng với cha, mẹ tại phường H, thị xã H nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Khoảng 11 giờ ngày 21/11/2022, Đỗ Thành T chở theo thùng xốp bên trong có 05 hộp Pháo hoa nổ và 05 bịch Pháo nổ để bán cho một đối tượng không rõ họ tên với giá 10.500.000 đồng thì bị tổ công tác Công an thị xã Hoài Nhơn phát hiện bắt quả tang; đồng thời T tự nguyện giao nộp 04 bịch Pháo nổ đang cất giữ. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” phạm vào điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm. Bị cáo biết mua bán pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Đỗ Thành T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có con còn nhỏ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự trong việc quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Đối với người bán Pháo hoa nổ, Pháo nổ trên mạng xã hội Facebook và người đàn ông giao hàng cho T không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Đối với bà Trần Thị T, chị Nguyễn Thị Ngọc G không biết Đỗ Thành T tàng trữ Pháo hoa nổ, Pháo nổ tại nhà; rao bán Pháo hoa nổ, Pháo nổ bằng tài khoản mạng Facebook “Nguyễn Thị Ngọc G”; dùng xe mô tô BKS 77C1-288.58 của Trần Thị T để vận chuyển Pháo hoa nổ, Pháo nổ để buôn bán nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- 9,19 kg Pháo hoa nổ và Pháo nổ còn lại sau giám định gồm:

+ 04 (bốn) khối hộp Pháo hoa nổ có kích thước (16,5 x 16,5 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy in hình hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp chứa 48 ống giấy hình trụ tròn được liên kết với nhau, tổng khối lượng 5,88kg.

+ 01 (một) khối hộp Pháo hoa nổ có kích thước (14 x 14 x 12,5)cm, bên ngoài bọc giấy in hình hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp chứa 36 ống giấy hình trụ tròn được liên kết với nhau, tổng khối lượng 1,31kg.

+ 855 vật Pháo nổ hình cầu vỏ nhựa bằng màu xanh, đỏ, vàng mỗi vật đường kính 20cm đựng trong 09 bịch ni lông, tổng khối lượng 2kg.

Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh ngọc, có số IMEI 1 là 867695057655473 và IMEI 2 là 867695057655465 (không kiểm tra chất lượng bên trong), đây là phương tiện bị cáo T dùng để liên lạc mua bán pháo nổ nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thành T mức án tù từ 12 đến 18 tháng tù là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đỗ Thành T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Thành T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 04 (bốn) khối hộp Pháo hoa nổ có kích thước (16,5 x 16,5 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy in hình hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp chứa 48 ống giấy hình trụ tròn được liên kết với nhau, tổng khối lượng 5,88kg.

+ 01 (một) khối hộp Pháo hoa nổ có kích thước (14 x 14 x 12,5)cm, bên ngoài bọc giấy in hình hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp chứa 36 ống giấy hình trụ tròn được liên kết với nhau, tổng khối lượng 1,31kg.

+ 855 vật Pháo nổ hình cầu vỏ nhựa bằng màu xanh, đỏ, vàng mỗi vật đường kính 20cm đựng trong 09 bịch ni lông, tổng khối lượng 2kg

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh ngọc, có số IMEI 1 là 867695057655473 và IMEI 2 là 867695057655465 (không kiểm tra chất lượng bên trong).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 01 năm 2023, giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn).

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Thành T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ