vanban.org

Bản án 14/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 14/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 15, 38, 56, 57 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Th 02 (hai) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội "Trộm cắp tài sản". Tổng hợp hình phạt 10 tháng tù tại bản án số 05/2022/HSST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 15, 38, 56, 57 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt; Điều 15 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14 /2022/HS-ST
Ngày 14 tháng 03 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Xuân Thịnh

2. Bà Nguyễn Thị Tin

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thủy, Thư ký Toà án nhân dân huyện

Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên

toà: Ông Vũ Hồng Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 03 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng,

tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn Th, sinh năm 1995; tại tỉnh Bắc Giang; tên gọi

khác: Không; nơi đăng ký ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Đ, thị trấn Nh, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1962 và bà Lương Thị H, sinh năm 1964; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Bản án số 01/2016/HSST ngày 21/01/2016 của Toà án nhân dân huyện yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 07/2013/HSST ngày 18/01/2013 của Toà án nhân dân huyện yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bản án số 05/2022/HSST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xử phạt 10 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

1

Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2021 đến nay,

hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Bắc Giang, (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị

trấn Nh, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lương Thị H, sinh năm 1964,

địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn Nh, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Hoàng Văn Th, sinh năm 1995 ở tổ dân phố Đ, thị trấn Nh, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ gia đình với bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967 ở cùng tổ dân phố, Th phải gọi bà M là “Thím”. Do thường xuyên đến nhà bà M chơi nên Th biết bà M có sở hữu 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus và bà M chỉ ở một mình, phía đỉnh trần tầng một nhà bà M có 01 cửa tum bằng gỗ, được buộc dây mở vào được trong nhà, nên Th nảy sinh ý định vào nhà bà M trộm cắp chiếc điện thoại đem đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 00 giờ ngày 24/11/2020, Th đội 01 chiếc mũ mầu đen, cầm theo 01 con dao, loại dao gọt hoa quả và 01 cuộn băng dính màu trắng đi đến nhà bà M, trèo lên tường bao rồi neo lên trên trần tầng 01 nhà bà M, rồi Th đi đến cửa tum dùng dao đem theo cắt dây buộc cửa đi vào trong nhà. Thquan sát thấy bà M đang nằm trên giường ngủ dưới tầng một xem điện thoại, nên Th đã ngồi trên đỉnh trần chờ bà M ngủ thì xuống lấy chiếc điện thoại của bà M. Khoảng 01 giờ ngày 24/11/2020, thấy bà M đã ngủ, Th đi theo lối cầu thang xuống tầng một và đi đến vị trí giường ngủ của bà M tìm chiếc điện thoại, khi Th nhấc chiếc chăn đang đắp trên người bà M để tìm chiếc điện thoại thì bà M tỉnh dậy, thấy vậy, Thdùng hai bàn tay bịt vào mồm bà M và dùng khuỷu tay tì đè vào người bà M, nhằm mục đích không cho bà M hô lên thì bị bà M cắn vào ngón giữa bàn tay phải và ngón áp út bàn tay trái, Th liền rút tay lại rồi cầm con dao mang theo dơ lên đe doạ với mục đích để tẩu thoát, nhưng lại bị bà Mùi dùng 02 tay túm được vào phần lưỡi dao giữ lại, Th bảo bà M “bỏ tay ra không đứt tay”, khi bà M bỏ tay ra khỏi dao thì Thcầm dao chạy theo lối cửa nhà bếp,

2

chạy ra ngoài rồi đi về nhà. Trên đường bỏ chạy Th làm rơi 01 chiếc dép nhãn hiệu NIKE màu xanh, còn con dao Th đã vứt đi.

Sau khi sự việc xảy ra, bà M được đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Yên

Dũng để điều trị với chấn thương hàm, mặt; răng 31, 32, 33, 41, 42, 43 bị lung lay; rách da ngón 4, 5 bàn tay trái. Sáng ngày 24/11/2020 bà M làm đơn trình báo cơ quan điều tra Công an huyện Yên Dũng.

Ngay sau khi nhận được tin báo Cơ quan điều tra đã tiến hành khám

nghiệm hiện trường và thu giữ 01 cuộn băng dính, 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đen và 01 chiếc dép nhãn hiệu NIKE màu xanh.

Ngày 26/11/2020, Hoàng Văn Th đến cơ quan điều tra Công an huyện

Yên Dũng xin đầu thú, cơ quan điều tra đã tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể Hoàng Văn Th, phát hiện: 01 vết xước ở cánh tay trái; 01 vết xước ở đùi sau bên chân phải; 01 vết xước ở ngón tay trái áp út; 01 vết xước ở ngòn giữa tay phải.

Ngày 27/11/2020 và 29/12/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Yên

Dũng có yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc điện thoại di động và giám định tỷ lệ tổn hại sức khoẻ của bà Mùi.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 115/KL-ĐGTS ngày 01/12/ 2020 của

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Dũng kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus có giá trị là 2.289.000đồng.

Tại bản kết luận giám định số 9786/ 20/TGT ngày 06/01/2021 của Trung

tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Thương tích mất răng 31: 2%; mất răng 32: 2%; mất răng 41: 2%; mất răng 42: 2%; Thương tích sẹo nông ngón 4 bàn tay trái: 1%; Thương tích sẹo nông ngón 5 bàn tay trái: 1%. Tổng tỷ lệ thương tích theo phương pháp cộng của Thông tư số 22/2019/TTBYT là 10%. Thương tích mất răng 31, 32, 41, 42 do vật tày gây nên.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn Th bỏ trốn khỏi địa phương, cơ quan điều

tra đã ra Quyết định truy nã, đến ngày 20/8/2021 Th bị bắt giữ.

Đối với hành vi gây thương tích của Hoàng Văn Th, ngày 10/01/2022 bà

M có đơn đề nghị khởi tố đối với Hoàng Văn th về hành vi gây thương tích cho bà M là 10% . Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quá trình điều tra bổ sung, ngày 28/01/2022, bà Mùi có đơn xin rút đề nghị khởi tố đối với Hoàng

3

Văn Th về hành vi gây thương tích cho bà M, nên cơ quan điều tra không ra quyết định khởi tố đối với Hoàng Văn Th về hành vi gây thương tích cho bà M.

Về trách nhiệm dân sự: Bà M yêu cầu Thể bồi thường 15.000.000 đồng là

số tiền bà đã bỏ ra làm lại 04 chiếc răng. Quá trình điều tra bổ sung, bà Lương Thị H là mẹ bị cáo Th đã bồi thường cho bà M số tiền 15.000.000 đồng, đến nay bà M không yêu cầu bị cáo thể phải bồi thường.

Về vật chứng vụ án: 01 con dao Th đã vứt đi Th không nhớ đã vứt ở đâu,

cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được. Đối với 01 cuộn băng dính, 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đen và 01 chiếc dép nhãn hiệu NIKE màu xanh được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng để xử lý theo quy định pháp luật.

Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành

vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 96/CT-VKSYD ngày 12/11/2021 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Th về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

+ Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như tại cơ

quan điều tra đã khai nhận, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan.

+ Bị hại bà Nguyễn Thị M có mặt tại phiên tòa và trình bày: Gia đình bị

cáo đã bồi thường cho bà số tiền 15.000.000 đồng, việc bà rút đơn không yêu cầu khởi tố bị cáo Th về hành vi gây thương tích cho bà là hoàn toàn tự nguyện, bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị H có mặt tại phiên

tòa và trình bày: Bà là mẹ đẻ củ bị cáo Th, bị cáo đã tác động đến gia đình để bà bồi thường cho bị hại, bà không có ý kiến gì về số tiền bà đã bỏ ra để bồi thường cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng sau khi phân tích tính

chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 173, điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều

51, các Điều 15, 38, 56, 57 Bộ luật hình sự.

4

2. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Th từ 22 tháng đến 27 tháng tù, về tội

“Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 10 tháng tù tại bản án số 05/2022/HSST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 32 tháng đến 37 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2021.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết

5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu

hủy 01 cuộn băng dính, 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đen và 01 chiếc dép nhãn hiệu NIKE màu xanh.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự,

điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì, nhất trí với bản luận tội của đại

diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng về tội danh cũng như hình phạt. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an

huyện Yên Dũng và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên và Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Xét về tội danh của bị cáo thì thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa

hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời

5

khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 1 giờ ngày 24/11/2020, tại nhà bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967 ở tổ dân phố Đ, thị trấn Nh, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Hoàng Văn Th, sinh năm 1995 ở tổ dân phố Đ, thị trấn Nh, huyện Yên Dũng có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus trị giá 2.289.000đồng của bà M, khi Th đang tìm chiếc điện thoại thì bị bà M phát hiện nên Th đã dùng tay và dao gây thương tích 10% sức khoẻ cho bà M rồi chạy thoát.

Ngày 20/12/2021 và ngày 11/01/2022, Tòa án đã ra Quyết định trả hồ sơ

vụ án để làm rõ hành vi của Hoàng Văn Th có dấu hiệu của tội “Cướp tài sản” được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại Công văn số 03/CV-VKSYD, ngày 27/12/2021 và công văn số

14/CV-VKSYD ngày 23/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hoàng Văn Thvề tội “Trộm cắp tài sản” theo cáo trạng số 96/CT-VKSYD ngày 12/11/2021.

Do vậy, Hội đồng xét xử xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy

định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo là đối tượng

không có việc làm ổn định, ham chơi, lười lao động. Do không có tiền ăn tiêu, đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nên đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nơi bị cáo sống và quần chúng nhân dân trên địa bàn huyện. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã ba

lần bị xét xử về hình sự đều về tội chiếm đoạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá

trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động đến gia

6

đình bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, cần áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Tại bản án

số 01/2016/HSST ngày 21/01/2016 của Toà án nhân dân huyện yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 06/7/2018. Ngày 23/4/2018, bị cáo thực hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và bị xét xử. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn đinh, do vậy Hội

đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, do vậy cần áp dụng

những quy định tại Điều 15, Điều 57 của Bộ luật hình sự về phạm tội chưa đạt để xét xử đối với bị cáo

. Tại bản án số 05/2022/HSST ngày 26/01/2022, Bị cáo Hoàng Văn Th

bị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, xử phạt 10 (Mười) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Do vậy cần phải tổng hợp hình phạt của bản án số 05/2022/HSST ngày 26/01/2022 là phù hợp với Điều 56 Bộ luật hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Bà Lương Thị H là mẹ bị cáo đã bồi thường

cho bà M số tiền 15.000.000 đồng, nay bà M không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

. Đối với hành vi gây thương tích của Hoàng Văn Th đối với bà

Nguyễn Thị M thì thấy: Ngày 10/01/2022 bà Mcó đơn đề nghị khởi tố đối với Hoàng Văn Th về hành vi gây thương tích cho bà M là 10% nhưng đến ngày 28/01/2022, bà M có đơn xin rút đề nghị khởi tố đối với Hoàng Văn Th về hành vi gây thương tích cho bà M, nên cơ quan điều tra không ra quyết định khởi tố đối với Hoàng Văn Th về hành vi gây thương tích cho bà M là phù hợp với quy định tại khoản 8 Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về vật chứng vụ án:

. Đối với 01 con dao Th đã vứt đi Th không nhớ đã vứt ở đâu, cơ

quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.

. Đối với 01 cuộn băng dính, 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đen và 01

chiếc dép nhãn hiệu NIKE màu xanh không có giá trị sử dụng, do vậy cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

7

. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy

định tại Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với

quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,

điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 15, 38, 56, 57 Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 206, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn Th 02 (hai) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội

"Trộm cắp tài sản". Tổng hợp hình phạt 10 tháng tù tại bản án số 05/2022/HSST ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2021.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối

với bị cáo.

4. Vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 cuộn băng dính, 01 chiếc mũ

lưỡi trai màu đen và 01 chiếc dép nhãn hiệu NIKE màu xanh.

(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự

huyện Yên Dũng theo Quyết định chuyển vật chứng số 64/QĐ-VKSYD ngày 12/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng).

5. Án phí: Bị cáo Hoàng Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự

sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

7. Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành

theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy

8

định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ