- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2021/HS-ST Ngày 18/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC - TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doanh Thị Mây
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lãnh Thị Mai
Ông La Văn Gia
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Bế Sư Chưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 18/6/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 đối với:
Bị cáo Hoàng Văn T, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2001
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm NV, xã YT, huyện BL, tỉnh C.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Hoàng Văn K, sinh năm 1953 (đã chết năm 2017) và con bà Nông Thị N (đã chết năm 2008); vợ, con: không có.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, sau đó tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 02/02/2021 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Tòn L, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Xóm NL, xã KC, huyện B, tỉnh C (Có mặt tại phiên tòa) .
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị DH - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 10 giờ 45 ngày 02/02/2021, Tổ công tác Công an huyện Bảo Lạc đang làm nhiệm vụ tại khu vực cây xăng thuộc xóm BN, xã HG, huyện B, tỉnh C phát hiện đối tượng Hoàng Văn T, sinh năm 2001, trú tại xóm NV, xã YT, huyện BL, tỉnh C điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đen - bạc, biển kiểm soát 11L1 - 1369, trên xe đang chở một túi bạt nhiều màu sắc có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong túi bạt có 05 (năm) khối hộp hình vuông đều có kích thước là 14x14x14cm, bên ngoài được dán bằng giấy màu đỏ, vàng có chữ nước ngoài (nghi là pháo do Trung Quốc sản xuất). Kiểm tra trên người Hoàng Văn T có một điện thoại di động cảm ứng, mặt sau màu đỏ, có chữ OPPO và số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, đưa đối tượng cùng toàn bộ vật chứng về Trụ sở Công an huyện Bảo Lạc để điều tra, làm rõ.
Hồi 16 giờ 00 cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc phối hợp với các thành phần chức năng tiến hành cân xác định khối lượng vật chứng đã thu giữ của Hoàng Văn T, kết quả toàn bộ 05 (năm) khối hộp, kích thước 14x14x14cm có tổng khối lượng là 07 kg (bảy kilôgam). Đồng thời tiến hành lấy ngẫu nhiên 01(một) khối hộp để gửi giám định.
Ngày 03/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc ra Quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T. Tại Bản kết luận giám định số: 27/GĐCN ngày 09/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: 01 (một) khối hộp hình chữ nhật gồm 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ liên kết với nhau, có gắn dây ngòi bên trong thùng bìa cát tông niêm phong gửi giám định là Pháo. Loại: Pháo hoa nổ.
Quá trình điều tra Hoàng Văn T khai nhận: 05 (năm) khối hộp bên trong túi bạt có tổng khối lượng 07kg (bảy kilôgam) đều là pháo của T mua với một người đàn ông Trung Quốc với mục đích đem về bán để kiếm lời. Do từ đầu năm 2018, T có thời gian đi làm thuê ở Trung Quốc nên quen và có số điện thoại của một người đàn ông tên là S ở Trung Quốc. Hoàng Văn T có một thời gian làm công nhân lăn sơn tại xóm NL, xã CP, huyện B nên quen biết đường đi, lối lại khu vực biên giới. Do nhu cầu cần tiền tiêu sài nên T nảy sinh ý định mua pháo từ Trung Quốc về Việt Nam để bán kiếm lời. Ngày 31/01/2021, T sử dụng số điện thoại 0364.717.702 gọi cho S để đặt mua 05 (năm) hộp pháo loại 36 (ba mươi sáu) ống với số tiền là 400NDT (Bốn trăm Nhân dân tệ) và hẹn địa điểm trao đổi Pháo gần Mốc A thuộc xóm NM, xã CP, huyện B. Đến khoảng 21 giờ 00 ngày 31/01/2021, T một mình đi xe máy từ T trấn B theo lối tắt tránh Trạm kiểm dịch Covid-19 qua VC, xóm CM, xã CP đến khu vực Mốc A thuộc xóm NM, xã CP, huyện B. Khi đến nơi, T không gặp S chỉ thấy pháo đã được để sẵn ở khu vực bụi tre gần hàng rào cách Mốc A khoảng 40 mét. Theo thỏa thuận, T tung 400NDT (Bốn trăm Nhân dân tệ) qua hàng rào dây thép gai với mục đích để trả tiền mua pháo cho S. Sau đó T vận chuyển số pháo trên về cất giấu tại gầm cầu cứng thuộc xóm NC, thị trấn B rồi đi về ngủ. Ngày 01/02/2021, một người đàn ông có tài khoản Facebook là “GR”, ở xã HG liên hệ với T qua Facebook hỏi và đặt mua 05 (năm) hộp pháo của T với số tiền là 600.000đ (Sáu trăm ngìn đồng)/01 hộp. Qua thỏa thuận, người đàn ông này hẹn T giao dịch, trao đổi pháo tại khu vực cây xăng thuộc xóm BN, xã HG. Ngày 02/02/2021 khoảng 07 giờ 30 phút, T điều khiển xe máy Yamaha Jupiter Gravita màu đen - bạc, biển kiểm soát 11L1-1369, vận chuyển pháo từ Thị trấn B đến khu vực cây xăng như đã hẹn. Khoảng 10 giờ 45 cùng ngày tại khu vực gần cây xăng BN T bị Tổ công tác Công an huyện Bảo Lạc phát hiện, bắt quả tang.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đặng Tòn L trình bày: Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đen - bạc, biển kiểm soát 11L1 - 1369 là xe của ông cho Hoàng Văn T mượn vào sáng ngày 02/02/2021 ông không biết T sử dụng xe máy đi chở pháo. Ngày 18/3/2021 ông đã được nhận lại chiếc xe máy trên do cơ quan điều tra trả lại, nay ông không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Đối với người đàn ông Trung Quốc tên "S" bán pháo cho Hoàng Văn T và người đàn ông có tên Facebook "GR" đặt mua pháo với Hoàng Văn T do không có họ, tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không tiến hành xác minh truy xét được.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSBL ngày 07/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Hoàng Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn T theo như bản Cáo trạng đã nêu. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Hoàng Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T với khung hình phạt từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười năm) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Đề nghị hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy: Một túi bạt nhiều màu sắc sử dụng để đựng pháo cùng 04 (bốn) khối hộp, mỗi khối hộp có kích thước (14 x 14 x 14) cm, bên ngoài các khối hộp được bọc bằng giấy màu đỏ, vàng có chữ nước ngoài (là pháo hoa nổ). Các khối hộp pháo và bao tải đã được niêm phong trong một thùng cát tông, bên ngoài ghi "Phần để lại vật chứng Hoàng Văn T, sinh năm 2001, trú tại NV, YT, BL, C có hành vi mua bán hàng cấm, xảy ra ngày 20/02/2021 tại BN, HG, BL, C".
- Tịch thu, phát mại nộp ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động cảm ứng màu đỏ, mặt sau có chữ OPPO, màn hình đã bị nứt vỡ, có số IMEL1: 865092046509338; số IMEL2: 865092046509320, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Người bào chữa cho bị cáo bà Hoàng Thị DH - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C có văn bản trình bày quan điểm: Nhất trí với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có những hạn chế nhất định trong suy nghĩ và nhận thức. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo ăn năn hối lỗi, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị và cho bị cáo hưởng án treo.
Bị cáo Hoàng Văn T nhất trí với phần bào chữa của người bào chữa không có ý kiến bổ sung, thừa nhận hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi do mình gây ra. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã trực tiếp trao đổi mua 05 (Năm) hộp pháo với số tiền 400NDT (Bốn trăm Nhân dân tệ) tương đương 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) và trực tiếp trao đổi, thỏa thuận để bán số pháo trên cho người khác với giá 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng)/01 hộp. Số tiền dự kiến T có được là 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông.
“Điều 190. Tội buôn bán hàng cấm
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Hoàng Văn T sinh ra và lớn lên tại xã YT, huyện BL, tỉnh C trong một gia đình thuần nông, đông con. Bố mẹ đều mất sớm, bị cáo được học hết lớp 08/12 phổ thông, là người có nhận thức có sức khỏe lao động sớm phải bươn trải trong cuộc sống. Bị cáo nhận thức được pháo nổ là mặt hàng nhà nước cấm, nhưng chỉ vì ham muốn lợi ích trước mắt mà dẫn đến hành vi phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về xử lý vật chứng:
- Một túi bạt nhiều màu sắc sử dụng để đựng pháo cùng 04 (bốn) khối hộp, mỗi khối hộp có kích thước (14 x 14 x 14) cm, bên ngoài các khối hộp được bọc bằng giấy màu đỏ, vàng có chữ nước ngoài (là pháo hoa nổ). Các khối hộp pháo và bao tải đã được niêm phong trong một thùng cát tông, bên ngoài ghi "Phần để lại vật chứng Hoàng Văn T, sinh năm 2001, trú tại NV, YT, BL, C có hành vi mua bán hàng cấm, xảy ra ngày 20/02/2021 tại BN, HG, B, C" xét cần tịch thu, tiêu hủy.
- Một điện thoại di động cảm ứng màu đỏ, mặt sau có chữ OPPO, màn hình đã bị nứt vỡ, có số IMEL1: 865092046509338; số IMEL2: 865092046509320, điện thoại cũ đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội, xét cần tịch thu, phát mại nộp ngân sách nhà nước.
- Số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định không liên quan đến hành vi phạm tội xét cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 02/02/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
- Tịch thu tiêu hủy: Một túi bạt nhiều màu sắc sử dụng để đựng pháo cùng 04 (bốn) khối hộp, mỗi khối hộp có kích thước (14 x 14 x 14) cm, bên ngoài các khối hộp được bọc bằng giấy màu đỏ, vàng có chữ nước ngoài (là pháo hoa nổ). Các khối hộp pháo và bao tải đã được niêm phong trong một thùng cát tông, bên ngoài ghi "Phần để lại vật chứng Hoàng Văn T, sinh năm 2001, trú tại NV, YT, BL, C có hành vi mua bán hàng cấm, xảy ra ngày 20/02/2021 tại BN, HG, BL, CB".
- Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động cảm ứng màu đỏ, mặt sau có chữ OPPO, màn hình đã bị nứt vỡ, có số IMEL1: 865092046509338; số IMEL2: 865092046509320, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Toàn bộ vật chứng trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 23 ngày 10/5/2021.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp công quỹ nhà nước.
Án xử sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Công an huyện; Nhà tạm giữ; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã YT; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA DOANH THỊ MÂY |