- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2020/HS-ST Ngày 18-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thực
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Lợi và ông Võ Xuân Nghi
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HS ngày 05/6/2020, đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn H, sinh ngày 02/01/1979; tại: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ Hoàng Thị Lý H và có 03 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/01/2020 đến ngày 09/01/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Hoàng Thị Lý H; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
+ Chị Mai Thị O; nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 30/12/2019, Nguyễn Văn H vào thành phố Đồng Hới chơi và gặp một người tên Tùng (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), hai bên thống nhất mua bán pháo. Ngày 01/01/2020, Tùng mang ra bán cho H tổng số 02 hộp pháo loại 49 quả, 01 hộp pháo loại 09 quả, 02 hộp pháo loại 06 quả, 03 quả pháo hình cầu, nám với giá 4.500.000 đồng. Đến trưa ngày 03/01/2020, H nhận được cuộc gọi của một người lạ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi “Anh có pháo không bán cho em với?”, H trả lời “có”. Cả hai thỏa thuận việc mua bán pháo tổng số 02 hộp pháo loại 49 quả, 01 hộp pháo loại 09 quả, 02 hộp pháo loại 06 quả, 02 quả pháo hình cầu, nám với giá 4.800.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày người này lại gọi điện thoại và nói với H “Anh giao pháo cho em đi”. H đồng ý và hẹn địa điểm giao pháo ở thôn Phúc Kiều, xã Quảng Tùng. H dùng xe mô tô Honda AieBlade BKS 73E1-04878 chở số pháo đến địa điểm bán hàng. Khi đang chở pháo đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Phúc Kiều, xã Quảng Tùng thì bị Công an huyện Quảng Trạch phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Nguyễn Văn H thu giữ được 01 quả pháo hình cầu.
Tại bản Kết luận giám định số 53/GĐ-PC09 ngày 07/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), có tổng khối lượng là 12,9 kg.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã tạm giữ các vật chứng liên quan đến vụ án để điều tra và xác định đúng chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp nên xử lý trả lại tài sản cho chị Hoàng Thị Lý H, chị Mai Thị O theo quy định của pháp luật. Đối với vật chứng còn lại được chuyển xử lý theo thẩm quyền.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSQT ngày 24/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng; tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại sau giám định và 01 bao tải màu xanh; tịch thu sung quỹ nhà nước giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen; buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và thống nhất với tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố, kết tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương để chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận: Vào ngày 30/12/2019, bị cáo đã gặp và thỏa thuận thống nhất với Tùng (một người không xác định được rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) về việc mua bán các loại pháo. Đến ngày 01/01/2020, theo như thỏa thuận thì Tùng đã mang ra bán cho H tổng số 02 hộp pháo loại 49 quả, 01 hộp pháo loại 09 quả, 02 hộp pháo loại 06 quả, 03 quả pháo hình cầu, nám với giá 4.500.000 đồng. Vì mục đích bán lại kiếm lời nên ngày 03/01/2020, H đã thỏa thuận bán lại cho một người lạ (không xác định được rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) tổng số 02 hộp pháo loại 49 quả, 01 hộp pháo loại 09 quả, 02 hộp pháo loại 06 quả, 02 quả pháo hình cầu, nám với giá 4.800.000 đồng. H cất giữ lại 01 quả pháo hình cầu, nám. Tuy nhiên, khi đang chở pháo đến địa điểm giao đã bị Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Ngoài ra, thu giữ 01 quả pháo hình cầu, nám tại nhà của bị cáo. Theo kết luận của cơ quan chuyên môn thì: Mẫu vật gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), có tổng khối lượng là 12,9 kg. Hành vi buôn bán pháo nổ của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận, bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh hàng cấm; xâm phạm trật tự công cộng; gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân. Pháo nổ là hoàng hóa mà Nhà nước không cho phép lưu thông trên thị trường, không cho phép tàng trữ, mua bán nhưng chỉ vì hám lợi nên bị cáo đã coi thường pháp luật dẫn đến phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân thì bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được việc làm sai trái của mình để có hướng khắc phục, sửa chữa lỗi lầm; bị cáo là lao động chính trong gia đình phải chăm lo cho mẹ già, 3 con nhỏ và vợ đang bị bệnh B20. Bị cáo có bố mẹ là người có công; bố là Bệnh binh, mẹ là người có công được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen vì có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo đã tự nguyện ủng hộ phòng chống dịch covid 19 số tiền 1.000.000 đồng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, có đủ điều kiện được rèn luyện, cải tạo, giáo dục tại địa phương nên chưa cần thiết buộc pH cách ly ra khỏi xã hội mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, giao về chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình theo dõi, giám sát cũng đủ tính răn đe, giáo dục.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã tạm giữ vật chứng liên quan để điều tra và đã tiến hành xử lý trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp theo quy định của pháp luật. Đến tại phiên tòa không ai có ý kiến, yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 4,25 kg pháo hoàn trả sau giám định và 01 bao tải màu xanh. Xác định đây là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không còn giá trị, không sử dụng được nên căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen mà bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi việc mua bán pháo. Xác định, đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18/6/2020.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen.
Tịch thu tiêu hủy 4,25 kg pháo hoàn trả sau giám định và 01 bao tải màu xanh.
Vật chứng trên có các đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày 29/4/2020.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Công an huyện Quảng Trạch; - VKSND huyện Quảng Trạch; - THADS huyện Quảng Trạch; - Bị cáo; NCQL,NVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Ngọc Thực |