vanban.org

Bản án 14/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Phước Tuyên án 24/02/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên về phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Tuyên bố bị cáo Lê Đình C phạm tội tổ chức đánh bạc. Xử phạt bị cáo Lê Đình C 01 (một) năm tù; thời hạn tù kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2019 đến ngày 16/8/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình C - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên về phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
  • Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 14/2020/HS-PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 24-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhân

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Tiến Hiệp

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Ông Tạ Duy Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đàm Thị Vang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 123/2019/HSPT ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Lê Đình C

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Đình C, sinh năm 1974 tại Đà Nẵng; nơi cư trú tổ 3, khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị B; có vợ là bà Võ Thị Thanh M (đã ly hôn) và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2019 đến ngày 16/8/2019 - tại ngoại “có mặt”.

Ngoài ra, còn có các bị cáo khác và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị và không xem xét nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 22/4/2019, bị cáo Nguyễn Thị B sau khi đi từ nhà con gái về nhà tại khu phố S, phường T, thành phố Đ thì thấy khoảng 5 – 6 người không rõ nhân thân lai lịch đang ở nhà của bị cáo. Sau khi bị cáo B về thì những người này xin chơi bài tại nhà của bị cáo rồi trả tiền xâu cho bị cáo thì bị cáo đồng ý. Lúc này, bị cáo B nói những người này chơi ở khu vực phía sau nhà bếp để tránh bị Công an phát hiện, sau đó bị cáo lấy 01 cái mền cũ, 01 cái chiếu cũ để những người đánh bạc trải xuống nền nhà bếp để chơi đánh bài xì dách thắng thua bằng tiền. Đồng thời bị cáo B nói với bị cáo Lê Đình C ra khu vực phía trước nhà để cảnh giới cho những người này chơi, nếu có Công an đến thì kịp thời thông báo để những người chơi nghỉ. Trong quá trình chơi, những người đánh bạc sẽ trả cho bị cáo B từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng tiền xâu nếu như lượt ai làm cái thắng. Số tiền xâu này sẽ được để trong 01 ca nhựa gần chỗ ngồi chơi hoặc đưa trực tiếp cho bị cáo B nếu như bị cáo ở đó hoặc đưa cho bị cáo C nhận giùm. Những người này chơi đến khoảng 09 giờ ngày 23/4/2019 thì nghỉ không chơi nữa, khi những người này nghỉ thì đã cho bị cáo C 400.000 đồng tiền bồi dưỡng.

Đến khoảng 12 giờ ngày 23/4/2019, các bị cáo Lê Thị Kim L, Lê Thị Kim A, Trần Thị T và Trần Thị Kim N rủ nhau đến nhà bị cáo B để xin chơi đánh bài thắng thua bằng tiền. Sau khi đến nhà của bị cáo B thì bị cáo C nói chưa có đủ người nên những người này mới đi ra phía sau nhà ngồi chơi nói chuyện, một lúc sau có một người phụ nữ chưa rõ nhân thân lai lịch cũng đến với mục đích chơi đánh bạc. Lúc này, do chưa có bài nên bị cáo B nói với bị cáo C ra mua 02 bộ bài Tây loại 52 lá cho những người này chơi. Bị cáo C đã điều khiển xe đi đến tiệm tạp hóa gần nhà mua 02 bộ bài Tây loại 52 lá về để những người đến chơi có bài để chơi. Trên đường về thì bị cáo C có gặp bị cáo Lê Đình M (là A trai bị cáo C) nên đã chở bị cáo M xuống nhà bị cáo B. Khi bị cáo C về đến nhà thì các bị cáo L, A, N, T, M và người phụ nữ không rõ lai lịch đi vào trong khu vực nhà bếp của nhà bị cáo B lấy mền, chiếu, dĩa có sẵn ở đó và lấy bài ra để chơi. Những người này chơi bài xì dách thắng thua bằng tiền, mỗi ván đặt cược dao động từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng mỗi người. Trong lúc những người này chơi thì bị cáo B nằm gần đó để lấy tiền xâu, còn bị cáo C thì ra ngoài khu vực phía trước để cảnh giới. Sau khi những người trên chơi được một lúc thì có các bị cáo Trần Văn Kim S, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Minh N, Đào Văn V và Trần Thị Mỹ L đến vào tham gia chơi cùng. Về số tiền xâu thì cũng như trước, những người chơi sẽ trả cho bị cáo B từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng tiền xâu nếu như lượt ai làm cái thắng. Về số tiền xâu này sẽ được để trong 01 ca nhựa gần chỗ ngồi chơi hoặc đưa trực tiếp cho bị cáo B nếu như bị cáo ở đó hoặc đưa cho bị cáo C nhận giùm. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi những người này đang chơi thì Công an thành phố Đ kết hợp với Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Khi đánh bạc, bị cáo Trần Thị Kim N sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để chơi đánh bạc, bị cáo Lê Thị Kim L sử dụng số tiền 2.440.000 đồng để chơi đánh bạc, bị cáo Lê Thị Kim A sử dụng số tiền 4.010.000 đồng để chơi đánh bạc, bị cáo Đào Văn V sử dụng số tiền 400.000 đồng để chơi đánh bạc, bị cáo Lê Đình M sử dụng số tiền 3.000.000 đồng để chơi đánh bạc, bị cáo Trần Văn Kim S và bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để chơi đánh bạc, bị cáo Trần Thị T sử dụng số tiền 1.700.000 đồng để chơi đánh bạc, bị cáo Trần Thị Mỹ L sử dụng số tiền 820.000 đồng để chơi đánh bạc, bị cáo Phạm Minh N sử dụng số tiền 300.000 đồng để chơi đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 16.170.000 đồng.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 138/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã quyết định: “Tuyên bố bị cáo Lê Đình C phạm tội tổ chức đánh bạc. Căn cứ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình C 01 (một) năm tù; thời hạn tù kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2019 đến ngày 16/8/2019”; ngoài ra còn quyết định tội danh và mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị B, Lê Thị Kim A, Lê Thị Kim L, Trần Thị Kim N, Trần Thị T, Lê Đình M, Trần Thị Mỹ L, Đào Văn V, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Minh N, Trần Văn Kim S, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 24 tháng 11 năm 2019 bị cáo Lê Đình C có đơn kháng cáo yêu cầu hưởng án treo và tại phiên tòa vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo Lê Đình C và giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Lê Đình C đã hoàn toàn thừa nhận việc phạm tội và hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã xác định. Xét lời nhận tội của bị cáo Lê Đình C phù hợp với lời khai các bị cáo khác, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đầy đủ căn cứ để xác định bị cáo Lê Đình C phạm tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét kháng cáo yêu cầu hưởng án treo của bị cáo Lê Đình C, thấy rằng: Bị cáo Lê Đình C đồng phạm với mẹ đẻ của bị cáo là bị cáo Nguyễn Thị B về tội tổ chức đánh bạc, tham gia với vai trò giúp sức rất tích cực trong việc tổ chức đánh bạc cho các bị cáo khác thực hiện việc đánh bạc nên cần phải xét xử nghiêm, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt bị cáo 01 năm tù là tương xứng, phù hợp và đúng quy định của pháp luật nên kháng cáo yêu cầu hưởng án treo của bị cáo không được chấp nhận.

Ý kiến của Kiểm sát viên-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên toà phúc thẩm đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo được hưởng án treo của bị cáo Lê Đình C, giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm về hình phạt là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Đình C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo yêu cầu hưởng án treo của bị cáo Lê Đình C,

Giữ nguyên về phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

2. Tuyên bố bị cáo Lê Đình C phạm tội tổ chức đánh bạc.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Lê Đình C 01 (một) năm tù; thời hạn tù kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2019 đến ngày 16/8/2019.

4. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Đình C phải chịu 200.000 đồng.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ