vanban.org

Bản án 14/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn T cho UBND xã QT, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƢU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HSST
Ngày: 27-02-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƢU, TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Sơn

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Tùng và bà Hồ Thị Thúy Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh – Thư ký TAND huyện Quỳnh Lưu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa:

Ông Hồ Ngọc Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/02/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2019/HSST ngày 31/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HS ngày 14/02/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1976 tại huyện QL, tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: không; nơi cư trú: xóm 4, xã QT, huyện QL, tỉnh Nghệ An; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lái máy múc; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Trần Văn L, sinh năm 1950 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1950; vợ: Phạm Thị G, sinh năm 1978 và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/11/2018 đến ngày 21/11/2018 được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Phạm Thị G, sinh năm 1978 – có mặt

Nơi cư trú: Xóm 4, xã QT, huyện QL, tỉnh Nghệ An;

- Người làm chứng: Anh Phạm T1, sinh năm 1975 – có mặt;

Nơi cư trú: Xóm 7, xã QT, huyện QL, tỉnh Nghệ An;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 12 năm 2017 trong quá trình đi lái máy múc tại xã SH, huyện QL, T có mua 05 (Năm) bánh pháo, loại pháo 36 quả của một người đàn ông không quen biết với giá 620.000 đồng/bánh để sử dụng vào dịp tết Nguyên đán hoặc là có ai mua lại thì đem bán để kiếm tiền lời. Sau khi mua được số pháo trên T đưa về cất giấu tại vị trí chuồng gà của nhà mình. Đến ngày 09/11/2018 Phạm T1, ở cùng xã với T, hiện đang làm thuê tại tỉnh Gia Lai gọi điện thoại cho T và hỏi T có pháo bán không và đòi trích tiền công. Qua trao đổi T không đồng ý trả tiền công. T đã xin T1 số điện thoại của người đàn ông tên Khanh mua pháo đó để T tự liên lạc và giao dịch. Sau khi liên lạc và hẹn địa điểm mua bán pháo, đến 20 giờ 00 phút, ngày 11/11/2018 bị cáo T lấy xe mô tô nhãn hiệu LEAD màu đồng BKS 37P8-1114 của gia đình chở số pháo trên lên xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Lưu để bán cho một người tên Khanh. Khi T đi đến đoạn đường giáp ranh giữa hai xã Quỳnh Hậu và xã Quỳnh Hoa thì bị tổ công tác Công an huyện Quỳnh Lưu phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số pháo trên.

Tại biên bản mở niêm phong và xác định trọng lượng của cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An ngày 12/11/2018 xác định: 05 bánh pháo thu giữ của Trần Văn T có trọng lượng là 07kg (bảy kilôgam).

Tại bản Kết luận giám định số 304/KL-PC09(CN) ngày 16/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An đã kết luận: mẫu vật thu giữ của Trần Văn T gửi tới giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS-HS ngày 30/01/2019 của VKSND huyện Quỳnh Lưu đã truy tố bị cáo Trần Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ an để xét xử về tội "Buôn bán hàng cấm " theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện VKSND huyện Quỳnh Lưu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX:

- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 24 đến 30 tháng về tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bổ sung đối với bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS;

- Tịch thu tiêu hủy 5,6 kg pháo sau khi đã lấy mẫu đi giám định;

- Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Mastel 105 màu đỏ đen có gắn sim số 0359.468.597 là phương tiện liên lạc liên quan đến hành vi phạm tội.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda LEAD, BKS: 37P8 -1114 quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu là có căn cứ.

- Đối với hành vi của Phạm T1 và người đàn ông tên Khanh cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh điều tra nhưng chưa đủ căn cứ để xử lý.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu; hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng được ban hành đúng quy định, đúng thẩm quyền. Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đúng như hành vi cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Trần Văn T đã mua bán trái phép 07 kg pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 BLHS.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, Pháo nổ gây ảnh hưởng rất lớn về sức khỏe, môi trường, thiệt hại về kinh tế. Nhà nước đã nghiêm cấm sản xuất, buôn bán, sử dụng pháo nổ. Nhưng do hám lợi mà bất chấp các hậu quả do pháo nổ gây ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của Nhà nước. Vì vậy phải xét xử nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Nhưng xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Sau khi phạm tội bị cáo thể hiện luôn chấp hành đầy đủ đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như các quy định của chính quyền địa phương, nơi cư trú thể hiện sự ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao cho chính quyền địa phương cải tạo giáo dục để bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng khoản 4 Điều 190 BLHS để phạt bổ sung là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Đối với hành vi của Phạm T1 và người đàn ông tên Khanh cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh điều tra nhưng chưa đủ căn cứ để xử lý.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS

- Tịch thu tiêu hủy 07 kg pháo (Được trừ lấy mẫu 1,4 kg đã sử dụng hết trong quá trình giám định);

- Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Mastel 105 màu đỏ đen có gắn sim số 0359.468.597 là phương tiện liên lạc liên quan đến hành vi phạm tội.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda LEAD, BKS: 37P8 -1114 là của chị G (vợ T) nhưng chị G không biết T dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho chị G là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS;

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn T cho UBND xã QT, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bổ sung đối với Trần Văn T 20.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS

- Tịch thu tiêu hủy 07 kg pháo (Được trừ lấy mẫu 1,4 kg đã sử dụng hết trong quá trình giám định)

- Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di dộng hiệu Mastel 105 màu đỏ đen thu giữ của Trần Văn T là phương tiện liên lạc liên quan đến hành vi phạm tội.

(Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu; có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/01/2019 giữa Công an huyện Quỳnh Lưu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu)

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày từ ngày tuyên án sơ thẩm.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi gửi:

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

- Bị cáo;người liên quan

(đã ký)

- VKSND tỉnh Nghệ An;

- TAND tỉnh NA;

- VKSND huyện Quỳnh Lưu.;

- Công an huyện Quỳnh Lưu;

- Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu;

- UBND xã Quỳnh Thanh;

- Lưu HS vụ án, VP

Nguyễn Anh Sơn

Cỡ chữ