vanban.org

Bản án 14/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 24/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!! !!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
HUYỆN!PHÚ!QUỐC!
!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số!14/2018/HSST
Ngày 24/01/2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!PHÚ!QUỐC,!TỈNH!KIÊN!GIANG!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:! !

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ!Kim!Ngân!

Các Hội thẩm nhân dân:

1.!Ông Dương!Tấn!Đấu! Nơi công tác: Hội cựu chiến binh huyện Phú Quốc!

2.!Bà Phạm!Thị!Kiếm Nơi công tác: Trường tiểu học Dương Đông 1, huyện Phú Quốc!

- Thư ký phiên tòa: Ông!Phạm!Ngọc!Chí, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm!Ngọc!Phương, Kiểm sát viên.!!!!

Trong ngày 24 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 158/2017/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Võ!Ngọc!T,!sinh ngày 30/7/2000, tại: Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; (vào ngày 25/7/2017 bị cáo được 16 tuổi 11 tháng 25 ngày); Nơi ĐKTT: khu phố 5, thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Con ông: Võ Ngọc A và bà: Phạm Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Nguyễn! Trần! Chí! Đ,! sinh ngày 24/6/2000, tại: Tp Hồ Chí Minh; (vào ngày 25/7/2017 bị cáo được 17 tuổi 01 tháng 01 ngày); Nơi ĐKTT: khu phố 3, thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Con ông: Trần Đình Nh và bà: Nguyễn Thị Đ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của Võ Ngọc Tùng: bà Phạm!Thị!H, sinh năm 1973 Địa chỉ: tổ 8, khu phố 5, thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc. Có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Trần Chí Đ: bà Nguyễn!Thị!Đ, sinh năm 1979 và bà Nguyễn!Thị!Thu!H, sinh năm 1960 Địa chỉ: khu phố 3, thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Võ Ngọc T, Nguyễn Trần Chí Đ: ông Trần! Tuấn!A – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Có mặt.

- Người bị hại:

1. Ông Vũ!Văn!Th, sinh năm 1994. Địa chỉ: ấp Rạch Hàm, xã Hàm Ninh, huyện Phú Quốc. Có đơn xin vắng mặt.

2. Ông Võ!Hoàng!S, sinh năm 1998. Địa chỉ: ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc. Vắng mặt lần thứ 2.

3. Bà Nguyễn!Thị!N, sinh năm 1986 Địa chỉ: ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc. Vắng mặt lần thứ 2.

4. Bà Hồ!Thị!Mỹ!L, sinh năm 1986 Địa chỉ: khu phố 6, thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc. Vắng mặt lần thứ 2.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 04/2017 đến ngày 25/7/2017, tại địa bàn xã Dương Tơ và thị trấn An Thới, Võ Ngọc T và Nguyễn Trần Chí Đ sử dụng xe mô tô biển số 68P1-354.67 của bà Phạm Thị H (mẹ ruột T, bà H không biết T sử dụng xe đi trộm tài sản), đã 04 lần trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:

Lần 1: vào đầu tháng 4/2017, do không có tiền chơi game, T rủ Đ đi lấy trộm tài sản, T sử dụng xe mô tô chở Đ đến khu vực chùa Hộ Quốc thuộc ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, Phú Quốc thì phát hiện chiếc xe mô tô, loại Attila, biển số 68P6-2800 của anh Vũ Văn Th để sát lề đường, không có ai trông coi, T đứng canh đường, còn Đ cậy cốp xe của anh Th lấy được 3.000.000 đồng, 01 máy Ipad mini, 01 điện thoại di động hiệu Oppo và 01 điện thoại di động hiệu Apple. Sau đó, T chở Đ về khu phố 5, thị trấn An Thới chia nhau tài sản. T lấy 1.500.000 đồng và 01 máy điện thoại di động hiệu Apple.

Lần 2: Khoảng 15 giờ ngày 12/7/2017, T sử dụng xe mô tô chở Đ đến khu vực tái định cư ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ thì thấy nhà anh Võ Hoàng S mở cửa, trong nhà không có ai nên T kêu Đ vào lấy trộm tài sản, còn T đứng ngoài canh đường, Đ vào nhà thấy 01 điện thoại di động hiệu Oppo Neo của anh S để trên bàn, Đ lấy bỏ vào túi quần rồi ra xe T chở đi.

Lần 3: Khoảng 15 giờ ngày 25/7/2017, T tiếp tục sử dụng xe mô tô chở Đ đến khu vực cây xăng Hồng H thuộc khu phố 6, thị trấn An Thới thì thấy nhà chị Hồ thị Mỹ L mở cửa, trong nhà không có ai nên T kêu Đ vào lấy trộm, còn T đứng ngoài canh đường. Đ vào nhà lấy trộm 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Huawei của chị L để trên tủ lạnh.

Lần 4: khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 25/7/2017, T sử dụng xe mô tô chở Đ đến khu vực tái định cư ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ thì thấy nhà chị Nguyễn Thị N mở cửa, trong nhà không có ai nên T kêu Đ vào lấy trộm tài sản, còn T ở ngoài canh đường. Đ vào nhà nhìn thấy túi xách của chị N để trên giường nên đến lục túi xách lấy 900.000 đồng, rồi Đ và T chia nhau. Đến ngày 26/7/2017, cả hai bị phát hiện bắt giữ.

Tang vật thu giữ: Tiền Việt Nam 3.000.000 đồng; 01 máy Ipad mini, model A-1489, võ màu trắng bạc, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, model X9006, võ máy màu trắng bạc, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, model A33W, võ máy màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Huawei, model Cun L22, võ máu màu gold, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winnen, biển kiểm soát 68P1-35467, đã qua sử dụng. Tất cả đã trả cho chủ sở hữu.

Tại bản kết luận về giá trị tài sản trong tố tụng hình sự số 49/KL-HĐĐG ngày 09/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phú Quốc kết luận:

- 01 máy Ipad mini, model A-1489, trị giá 3.167.000 đồng;

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, model X9006, trị giá 1.667.000 đồng;

- 01 điện thoại di động hiệu Apple, Iphone 5 White, không xác định được giá trị tài sản;

Tại bản kết luận về giá trị tài sản trong tố tụng hình sự số 57/KL-HĐĐG ngày 18/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phú Quốc kết luận:

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, model A33W, trị giá 1.200.000 đồng;

- 01 điện thoại di động hiệu Huawei, model Cun L22, trị giá 850.000 đồng;

Bản cáo trạng số: 152/KSĐT-KT ngày 29 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố các bị cáo Võ Ngọc T, Nguyễn Trần Chí Đ về tội “Trộm cắp tài sản tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Võ Ngọc T, Nguyễn Trần Chí Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 69; Điều 73 BLHS, xử phạt các bị cáo Võ Ngọc T từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt Nguyễn Trần Chí Đ từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự: những người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm đề nghị HĐXX miễn xét.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến: thống nhất với bản cáo trạng và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để các bị cáo có điều kiện học tập, học nghề, cải sửa thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bò chữa, lời khai của bị cáo, lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Quốc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, người giám hộ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Võ Ngọc T, Nguyễn Trần Chí Đ khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố. Hành vi của các bị cáo Võ Ngọc T, Nguyễn Trần Chí Đ đã đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên toà và tại cơ quan điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên; gia đình các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại; nên các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 69 BLHS.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: những người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[5]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

1. Tuyên bố:!Các bị cáo!Võ!Ngọc!T, Nguyễn!Trần!Chí!Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 69; Điều 73 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Võ!Ngọc!T!12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Xử phạt: Nguyễn!Trần!Chí!Đ!12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao các bị cáo Võ Ngọc T, Nguyễn Trần Chí Đ cho Ủy ban nhân dân thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành hình phạt.

3. Về án phí: Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho các bị cáo, người giám hộ biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án án (người bị hại kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú) để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Cỡ chữ