- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Minh Tuấn + 01 BC - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH Đ Bản án số:139/2023/HSST Ngày 31-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. B, TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Liên.
2. Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B , tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Ông Y Khang Êban– Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2023/TLST-HS, ngày 28 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:128/2023/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 5 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Minh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 11 tháng 02 năm 2001, tại Thành phố H;
Nơi cư trú: Số 74 Hồng Sến, tổ dân phố 5, khu phố 1, phường L, thành phố T, Thành phố H
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1956; con bà Nguyễn Thị G, sinh năm: 1955;
Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại Số 74 Hồng Sến, tổ dân phố 5, khu phố 1, phường L, thành phố T, Thành phố H - Có mặt tại phiên tòa
2. Họ và tên: Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam;
Sinh ngày 19 tháng 10 năm 1986, tại tỉnh T;
Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh T;
Chỗ ở hiện nay: Xóm 3, Buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đ;
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1960; còn bà: Vũ Thị B, sinh năm: 1961;
Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị M, sinh năm: 1987 (Đã ly hôn); hiện bị cáo sống như vợ chồng với chị Lê Thị A, sinh năm: 1994;
Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2018;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại: Xóm 3, Buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đ-Có mặt tại phiên tòa.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị An, Sinh năm 1994 – Có mặt.
Trú tại: Xóm 3, Buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đ.
- Ông Nguyễn Văn Phong. Sinh năm 1990 – Vắng mặt
Trú tại: Thôn 4, xã Q, huyện K, tỉnh Đ.
- bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1955.
Trú tại: Số 74 Hồng Sến, tổ dân phố 5, khu phố 1, phường L, thành phố T, Thành phố H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 11/2022, Nguyễn Minh T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, gắn sim thuê bao số 0329.469.235 đăng nhập tài khoản Facebook tên Nguyễn Minh T lên trên mạng xã hội đặt mua pháo nổ về để bán lại cho người khác kiếm lời. Sau đó, Tuấn lên trang mạng xã hội Facebook, kết bạn nhắn tin với một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) bán pháo nổ và mua của người thanh niên này 12 bịch pháo bi nhiều màu sắc bao gồm nhiều quả dạng hình tròn, có ngòi nổ, đều có đường kính 02cm; 02 bệ pháo dàn, có 49 ống hình trụ được xếp sát nhau và 03 quả pháo hình bầu dục rồi mang về nhà tại địa chỉ số 79 Hồng Sến, khu phố 1, phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu tìm người mua. Đến giữa tháng 11/2022, Tuấn lên mạng xã hội Facebook kết bạn, nhắn tin với tên tài khoản Facebook “Tiến Phat” của Nguyễn Văn H để nói về việc mua bán pháo nổ và Tuấn báo giá cho H 01 bịch pháo bi nhiều màu sắc bao gồm 100 quả dạng hình tròn, có ngòi nổ, đều có đường kính 02cm, giá 500.000 đồng/bịch; 01 bệ pháo dàn, có 49 ống hình trụ được xếp sát nhau, giá 700.000 đồng và 03 quả pháo bi hình bầu dục (còn gọi là pháo đầu ông sư) giá 700.000 đồng. Đồng thời T yêu cầu H nếu có nhu cầu mua pháo thì phải đặt cọc tiền trước để làm tin và Tuấn gửi số tài khoản mở tại Ngân hàng V tên Nguyễn Minh T của T cho H thì H đồng ý.
Sau đó, Huỳnh đặt mua của T 07 bịch pháo bi bên trong chứa 634 viên pháo bi hình tròn, nhiều màu sắc, đều có đường kính 02cm; 02 bệ pháo dàn, có 49 hình trụ được xếp sát nhau với số tiền 5.000.000 đồng và H nhờ một người (chưa rõ nhân thân, lai lịch) chuyển số tiền 2.000.000 dồng đến số tài khoản nêu trên của T để đặt cọc tiền mua pháo. Tiếp đó, Tuấn mượn xe Mô tô không rõ đặc điểm, biển số của một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) gửi số pháo nêu trên bằng xe khách cho H rồi H ra ngã ba D thuộc phường K, thành phố B, tỉnh Đ để nhận pháo từ xe khách (không nhớ tên xe, biển số xe) mà Tuấn gửi cho H được để trong một thùng xốp dán kín băng keo. Sau khi nhận số pháo trên, H mang về chỗ ở tại xóm 3, buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đ cất giấu để tìm người mua, bán kiếm lời. Đồng thời H chuyển tiếp cho T số tiền 5.000.000 đồng còn lại như đã thỏa thuận trước. Đến cuối tháng 11/2022, H tiếp tục mua của T 05 bịch pháo bi và 03 quả pháo hình bầu dục với số tiền 2.000.000 đồng rồi T gửi pháo bằng xe khách (không nhớ tên xe, biển số xe), H nhận pháo mang về chỗ ở cất giấu. Ngày 08/12/2022, có một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) nhắn tin cho H qua ứng dụng Messenger nói cần mua 05 bịch pháo bi và hẹn giao ở khu vực bùng binh gần Bệnh viện đa khoa vùng T thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đ thì H đồng ý. Đến khoảng 20h00’ ngày 09/12/2022, H điều khiển xe Mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu nâu đen, biển số 47K1 – 266.98 mang theo 05 bịch pháo bi để trong 01 thùng xốp đi đến bùng binh ngã tư đường Trần Quý C giao với đường Đại lộ Đông Tây thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đ để giao cho người thanh niên đặt mua trước đó, bán với số tiền 700.000 đồng/bịch. Khi H đang đứng ở bùng binh trên chờ người thanh niên đến nhận pháo thì bị Công an thành phố B phát hiện, kiểm tra và tạm giữ 05 bịch pháo bi bên trong chứa 443 viên bi hình tròn, nhiều màu sắc, đều có đường kính 02cm cùng các tài sản có liên quan. Đồng thời, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại Xóm 3, buôn K, xã D huyện K, tỉnh Đ phát hiện và tạm giữ 07 bịch pháo bi nhiều màu sắc; 02 bệ pháo dàn, có 49 ống hình trụ được xếp sát nhau và 03 quả pháo hình bầu dục được để trong 01 thùng xốp, kích thước (35 x 36 x 50)cm.
Tại bản Kết luận giám định số 1797/KL-KTHS, ngày 13 tháng 12 năm 2022, của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:
- 02 khối hộp (mỗi hộp có kích thước (17x17x10)cm bên ngoài bọc giấy màu đỏ có in hoa văn và chữ: KS4-4911 L, bên trong mỗi khối có 49 vật trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau) đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng là 3,55kg (Ba phẩy năm mươi lăm kilôgam).
- 02 vật hình bầu dục, mỗi vật có đường kính nơi lớn nhất là 07cm, bên ngoài được dán giấy, trên đầu mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng là 0,4kg (không phẩy bốn kilôgam).
- 01 vật hình bầu dục, có đường kính lớn nhất là 09cm, bên ngoài được dán giấy, trên đầu có gắn đoạn dây màu xanh, là pháo hoa nổ, khối lượng là 0,3kg (không phẩy ba kilôgam).
- 634 (sáu trăm ba mươi tư) vật hình cầu, vỏ bằng nhựa màu xanh đỏ, vàng, tím, xám; trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, được đựng trong 07 bịch nilông, đều là pháo nổ, tổng khối lượng là 2,7kg (hai phẩy bảy kilôgam).
- 443 (bốn trăm bốn mươi ba) vật hình cầu, vỏ bằng nhựa màu xanh, đỏ, vàng; trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, được đựng trong 05 bịch nilông đều là pháo nổ, tổng khối lượng là 2,1kg (hai phẩy một kilôgam).
Tổng trọng lượng pháo nổ thu giữ được là 9,05 kg.
Sau khi tiến hành giám định, khối lượng pháo nổ còn lại gồm:
- 02 khối hộp (mỗi hộp có kích thước (17x17x10)cm bên ngoài bọc giấy màu đỏ có in hoa văn và chữ: KS4-4911 L, bên trong mỗi khối có 47 vật trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau) tổng khối lượng là 3,4kg.
- 01 vật hình bầu dục, mỗi vật có đường kính lớn nhất là 07cm, bên ngoài được dán giấy, trên đầu mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, đựng trong 07 bịch nilông, tổng khối lượng là 0,2kg.
- 613 vật hình cầu, vỏ bằng nhựa màu xanh đỏ, vàng, tím, xám; trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, tổng khối lượng là 2,62 kg.
- 428 vật hình cầu, vỏ bằng nhựa màu xanh, đỏ, vàng; trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, được đựng trong 05 bịch nilông, tổng khối lượng là 2,04 kg.
Tổng khối lượng còn lại sau khi giám định là: 8,26kg.
Tại bản cáo trạng số:142/CT-VKS, ngày 27/4/2023,Viện kiểm sát nhân dân Tp. B, tỉnh Đ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn H về tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Tp. B đã truy tố đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên Quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn H phạm tội “ Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Tại phiên tòa, các bị cáo Tuấn và Huỳnh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo về cơ bản là phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Do ý thức coi thường luật pháp, nên vào tháng 11/2022, tại địa bàn thành phố B, tỉnh Đ. Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn H có hành vi buôn bán hàng cấm gồm 634 vật hình cầu, vỏ bằng nhựa màu: xanh, đỏ, vàng, tím, xám; trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, được đựng trong 07 bịch ni lông, đều là pháo nổ, khối lượng là 2,7kg; 443 vật hình cầu, vỏ bằng nhựa màu: xanh, đỏ, vàng; trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, được đựng trong 05 bịch ni lông, đều là pháo nổ, khối lượng là 2,1kg; 02 khối hộp (mỗi hộp có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy màu có in hoa văn và chữ: KS4- 4911L, bên trong mỗi khối có 49 vật hình trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau), đều là pháo hoa nổ, khối lượng là 3,55kg; 02 vật hình bầu dục, mỗi vật có đường kính lớn nhất là 07cm, bên ngoài được dán giấy, trên đầu mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, đều là pháo hoa nổ, khối lượng là 0,4kg; 01 vật hình bầu dục, có đường kính lớn nhất là 09cm, bên ngoài được dán giấy, trên đầu có gắn đoạn dây màu xanh, đều là pháo hoa nổ, khối lượng là 0,3kg. Tổng trọng lượng là 9,05kg thì bị phát hiện xử lý.
Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn H đã phạm vào tội: Buôn bán hàng cấm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự
* Tại Điều 190 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)……
c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến 40 kilôgam;
.......
Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế và chế độ độc quyền trong việc quản lý vật liệu nổ của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, nhất là tại thời điểm này các cơ quan Nhà nước và chính quyền địa phương đang đẩy mạnh tuyên truyền cấm chế tạo, tàng trữ, vận chuyển và mua bán trái phép chất nổ, vật liệu nổ. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo phải biết được rằng; chất nổ, vật liệu nổ là mặt hàng bị Nhà nước cấm chế tạo, tàng trữ, vận chuyển và mua bán; nhưng do ý thức coi thường pháp luật, vì mục đích vụ lợi cá nhân, các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán vật liệu nổ bị cấm, nhằm mục đích thu lợi bất chính.Vì vậy cần phải xử lý các bị cáo một cách kịp thời và nghiêm khắc để không những cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt mà còn là biện pháp răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện tội phạm mang tính đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên hành vi, vai trò, tính chất, mức độ tham gia của các bị cáo là có khác nhau. Vì vậy cần phân hóa để áp dụng mức hình phạt cho từng bị cáo sao cho phù hợp. Đối với bị cáo Tuấn, bị cáo là người trực tiếp tìm kiếm và liên hệ để bán pháo nổ cho bị cáo Huỳnh.Vì vậy mức hình phạt đối với bị cáo Tuấn phải cao hơn bị cáo Huỳnh là phù hợp.
Xét về nhân thân; trước khi phạm tội các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo Nguyễn Minh T đã tự nguyện giao nộp khoản tiền thu lợi bất chính (7.000.000 đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước; bị cáo Nguyễn Văn H gia đình có công với cách mạng (ông nội bị cáo là liệt sĩ Nguyễn Văn C, được Thủ tướng Chính phủ phong tặng danh hiệu; Tổ quốc ghi công), ngoài ra bị cáo H còn là lao động chính trong gia đình. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhà nước.
Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định nêu trên. Hội đồng xét xử xét xét thấy, các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn H Phạm tội lần đầu, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Trong vụ án này; Đối với căn nhà tại địa chỉ xóm 3, Buôn Kala, xã Dray Sáp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk thuộc quyền sở hữu của chị Lê Thị An. Việc bị cáo Huỳnh cất giấu pháo nổ ở căn nhà trên thì chị An không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị An là phù hợp.
Đối với căn nhà tại địa chỉ số 79 Hồng Sến, khu phố 1, phường L, thành phố T, thành phố H là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị G, là mẹ của bị cáo Nguyễn Minh T. Việc T cất giấu pháo nổ ở căn nhà trên thì bà G không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà G là có căn cứ.
Đối với người thanh niên (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người bán pháo nổ cho bị cáo T và người thanh niên niên (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) đặt mua pháo nổ của bị cáo H tại bùng binh ngã tư đường Trần Quý C giao với đường với Đại lộ Đông Tây thuộc phường T, thành phố B. Cơ quan điều tra chưa làm việc được với 02 người thanh niên trên nên tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh làm rõ xử lý xử lý sau theo quy định pháp luật là phù hợp.
Đối với người thanh niên (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) cho bị cáo T mượn xe mô tô để chở pháo ra xe khách chuyển cho bị cáo H. Cơ quan điều tra chưa làm việc được với người thanh niên trên nên tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh làm rõ xử lý xử lý sau theo quy định pháp luật là phù hợp.
Đối với người lái xe khách (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) giao pháo cho bị cáo Huỳnh tại ngã ba D thuộc phường K, thành phố B, tỉnh Đ và người chuyển tiền mua pháo (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) cho bị cáo H. Cơ quan điều tra chưa làm việc được với 02 người thanh niên trên nên tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh làm rõ xử lý xử lý sau theo quy định pháp luật là phù hợp.
Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1820, màu đỏ, số thuê bao 0329469235. Quá trình điều tra xác định, chiếc điện thoại di động là của bị cáo H đã dùng vào việc liên lạc với bị cáo T để mua bán pháo nổ. Vì vậy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn trắng đen, biển số 47K1 – 266.98. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên do anh Nguyễn Văn P đứng tên chủ sở hữu. Đến cuối năm 2021, anh Phong bán lại chiếc xe trên cho H nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 09/12/2022, bị cáo H sử dụng chiếc xe Mô tô trên làm phương tiện phạm tội. Vì vậy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, gắn sim số thuê bao 0329.469.235. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động trên là của bị cáo T đã dùng vào việc mua bán pháo nổ. Vì vậy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với 8,26kg pháo nổ còn lại sau khi giám định gồm: 02 khối hộp (mỗi hộp có kích thước (17x17x10)cm bên ngoài bọc giấy màu đỏ có in hoa văn và chữ: KS4-4911 L, bên trong mỗi khối có 47 vật trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau) tổng khối lượng là 3,4kg; 01 vật hình bầu dục, mỗi vật có đường kính nơi lớn nhất là 07cm, bên ngoài được dán giấy, trên đầu mỗi vật có gặn đoạn dây màu xanh, đựng trong 07 bịch nilông, tổng khối lượng là 0,2kg; 613 vật hình cầu, vỏ bằng nhựa màu xanh đỏ, vàng, tím, xám; trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, tổng khối lượng là 2,62 kg; 428 vật hình cầu, vỏ bằng nhựa màu xanh, đỏ, vàng; trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, được đựng trong 05 bịch nilông, tổng khối lượng là 2,04 kg. Tổng khối lượng còn lại sau giám định là 8,26kg. Đây là tang vật của vụ án là cần tịch thu tiêu hủy phù hợp.
Đối với số tiền 7.000.000 đồng mà bị cáo T tự nguyện giao nộp cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố B. Đây là số tiền mà bị cáo T đã thu lợi từ việc buôn bán thuốc nổ mà có. Vì vậy, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là phù hợp. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
- Về phần trách nhiệm dân sự: không.
Về án phí HSST: Các bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST theo quy định pháp luật.
* Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 (bốn mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Minh T cho UBND phường L, thành phố T, Thành phố H và giao bị cáo Nguyễn Văn Huỳnh cho UBND xã D, huyện K, tỉnh Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải thực hiện chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1820, màu đỏ và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn trắng đen, số máy: E3X9E372190, số khung: RLCUE3220JY082534, biển số 47K1 – 266.98 của bị cáo Nguyễn Văn H.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, đã qua sử dụng, gắn sim số thuê bao 0329.469.235 và 7.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Minh T.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ còn lại sau giám định là 8,26kg gồm có: 02 khối hộp (mỗi hộp có kích thước (17x17x10)cm bên ngoài bọc giấy màu đỏ có in hoa văn và chữ: KS4-4911 L, bên trong mỗi khối có 47 vật trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau) tổng khối lượng là 3,4kg; 01 vật hình bầu dục, mỗi vật có đường kính nơi lớn nhất là 07cm, bên ngoài được dán giấy, trên đầu mỗi vật có gặn đoạn dây màu xanh, đựng trong 07 bịch nilông, tổng khối lượng là 0,2kg; 613 vật hình cầu, vỏ bằng nhựa màu xanh đỏ, vàng, tím, xám; trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, tổng khối lượng là 2,62 kg; 428 vật hình cầu, vỏ bằng nhựa màu xanh, đỏ, vàng; trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, được đựng trong 05 bịch nilông, tổng khối lượng là 2,04 kg.
(Có đặc điểm như 02 biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2023 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2023, giữa Cơ quan điều tra - Công an Tp. B và Chi cục Thi hành án dân sự Tp. B)
* Về án phí HSST: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST theo quy định pháp luật.
Các bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đ ; - VKSND tỉnh Đ ; - Sở Tư pháp tỉnh Đ ; - CA TP.BMT; VKS TP.B; - T.H.A Dân sự; T.H.A Hình sự ; - Bị cáo; đương sự; - UBND xã Đ, huyện K; -UBND P. L, Tp. T; - Lưu hồ sơ; lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) NGUYỄ N QUANG CẢ NH |