- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nh n yêu c u kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2017/HSPT Ngày: 27/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thơ.
Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Thu Hằng.
2/ Bà Lưu Thị Thu Thủy.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thúy Thảo, Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 127/2017/HSPT ngày 01/11/2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn M do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 11/2017/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.
*Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn M, sinh năm 1992; (có mặt)
- Trú tại: ấp L, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
- Nghề nghiệp: Làm ruộng;
- Trình độ học vấn: 7/12;
- Con ông Nguyễn Văn Q và bà Lê Thị S;
- Bị cáo chưa có vợ con;
- Tiền sự: Không;
- Tiền án: 01 l n (Ngày 02/12/2013 bị Tòa án nhân dân huyện G xử phạt 09 tháng t , cho hưởng án treo. Th i gian thử thách 12 tháng);
- Bị cáo bị b t gi ngày 26/6/2017, tạm giam t ngày 29/6/2017;
*Ngoài ra, trong vụ án còn có 06 ngư i bị hại nhưng không có kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.
NHẬN THẤY:
Theo bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
T tháng 5/2015 đến tháng 7/2015, bị cáo Nguyễn Văn M tham gia c ng Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc Ta, Đinh Văn H và Nguyễn Văn N thực hiện 04 vụ trộm c p tài sản trên địa bàn huyện T; sau đó đem bán cho Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 ngụ c ng ấp và Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1958 ngụ số 236B, khu phố A, phư ng B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang chia nhau tiêu xài cá nhân. Cụ thể như sau:
Vụ 01: Vào khoảng tháng 5/2015, Nguyễn Văn T rủ Nguyễn Văn M Nguyễn Ngọc Ta và Đinh Văn H đi trộm c p tài sản bán lấy tiền tiêu xài, tất cả đồng ý nên vào khoảng 17 gi , T sử dụng ghe máy điều khiển chở bị cáo M, Ta và H đem theo công cụ (chìa khóa, kiềm) chạy đến đ m nuôi tôm của anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1973, ngụ ấp T, xã Tn, huyện T trộm 01 máy d u loại SS80. Sau khi thực hiện xong đem về cống L thuộc ấp L, xã Lg, huyện G bán cho Nguyễn Văn Tr với số tiền 2.500.000 đồng. Sau khi nh n tiền, bị cáo M và các đối tượng chia nhau tiêu xài cá nhân.
Căn cứ kết lu n định giá tài sản số 02 ngày 29/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết lu n giá trị tài sản của anh V tại th i điểm chiếm đoạt là 4.687.500 đồng
Vụ 02: Vào khoảng tháng 5/2015, Nguyễn Văn Th điện thoại rủ bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc Ta và Nguyễn Văn N đi trộm c p tài sản bán lấy tiền tiêu xài, tất cả đồng ý nên vào khoảng 20 gi 30 phút, Th điều khiển ghe máy chở Ta, M, N đem công cụ chạy đến đ m nuôi tôm của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1978, ngụ ấp T, xã Ta trộm 01 máy d u D8 rồi c ng nhau khiêng xuống ghe cất giấu. Sau đó, T tiếp tục điều khiển ghe chạy đến đ m nuôi tôm của anh Nguyễn Thanh Tg, sinh năm 1978, ngụ ấp T, xã Ta trộm 01 môtơ công suất 2.0 mã lực do Đài Loan sản xuất, 01 giảm tốc (không rõ nhãn hiệu). Đến đ m nuôi tôm của ông Hồ Văn Đ, sinh năm 1954, ngụ ấp B, xã P trộm 01 môtơ công suất 2.5 mã lực hiệu VTC, 01 giảm tốc hiệu DISOCO. Sau khi thực hiện xong, T điều khiển ghe chạy đến cống L điện thoại cho Nguyễn Văn Tr đến bán toàn bộ tài sản trên với số tiền 3.800.000đồng. Sau khi nh n tiền, bị cáo M và các đối tượng chia nhau tiêu xài cá nhân.
Căn cứ kết lu n định giá tài sản số 02 ngày 29/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết lu n tổng giá trị tài sản tại th i điểm chiếm đoạt là 5.855.000đồng (Trong đó tài sản của anh Nguyễn Văn L có giá trị là 880.000đồng, tài sản của anh Nguyễn Thanh Tg có giá trị 2.175.000 đồng, tài sản của bị hại Hồ Văn Đ có giá trị 2.800.000 đồng).
Vụ 03: Vào khoảng 17 gi , trong tháng 6/2015 (không nhớ ngày) Nguyễn Văn T rủ bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Ngọc Ta sử dụng ghe máy của T đi trộm c p tài sản (môtơ, giảm tốc, máy d u), Ta và bị cáo M đồng ý. T điều khiển ghe chạy đ m tôm của anh Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1972, ngụ ấp T, xã Ta, huyện T lấy trộm một giàn s t xi, sau đó tiếp tục điều khiển ghe lưu thông dọc theo sông C hướng đến bến phà T để trộm tài sản nhưng không trộm được nên điều khiển ghe chạy về khiêng giàn s t xi đến nhà của bị cáo M cất giấu rồi đem bán lại cho Th (do Th đã đặt mua trước đó) với giá 700.000 đồng. Sau khi nh n tiền, bị cáo M và các đối tượng chia nhau tiêu xài cá nhân.
Căn cứ kết lu n định giá tài sản số 02 ngày 29/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết lu n giá trị tài sản của anh Đn tại th i điểm chiếm đoạt là 1.600.000 đồng.
Vụ 04: Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn T rủ bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc Ta và Đinh Văn H đi trộm c p tài sản bán, tất cả đồng ý nên vào khoảng 22 gi , tháng 7/2015 (không nhớ ngày) T điều khiển ghe máy chở H, Ta và bị cáo M đem theo công cụ (kiềm, chìa khóa) chạy đến đ m nuôi tôm công nghiệp của anh Lê Văn Lm, sinh năm 1969, ngụ ấp T, xã Ta, huyện T trộm máy d u loại D6, 02 môtơ công suất 1.5 mã lực (ngựa), 02 giảm tốc hiệu DISOCO đem về cống L bán cho Nguyễn Văn Tr toàn bộ số tài sản trên với số tiền 3.200.000 đồng. Sau khi nh n được tiền, chia nhau tiêu xài cá nhân.
Căn cứ kết lu n định giá tài sản số 02 ngày 29/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết lu n tài sản có giá trị tại th i điểm chiếm đoạt là 7.470.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2017/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
*Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ lu t Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (Hai) năm tù. Th i hạn t tính t ngày tạm gi 26/6/2017.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về ph n trách nhiệm dân sự, ph n án phí và thông báo quyền kháng cáo theo qui định của pháp lu t.
Ngày 02/10/2017, bị cáo Nguyễn Văn M có đơn kháng cáo xin Tòa án phúc thẩm xem xét với nội dung: xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn M th a nh n hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của án sơ thẩm đã xét xử. Đồng th i, bị cáo vẫn gi nguyên yêu c u kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong ph n tranh lu n phát biểu ý kiến kết lu n về vụ án và nêu quan điểm đối với yêu c u kháng cáo của bị cáo. Đề nghị không chấp nh n yêu c u kháng cáo của bị cáo, gi nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh lu n tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đ y đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo M đã th a nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình. L i khai nh n của bị cáo ph hợp với l i khai của ngư i bị hại, ngư i làm chứng c ng với các chứng cứ tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu th p được có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện: T tháng 5/2015 đến tháng 7/2015, bị cáo Nguyễn Văn M tham gia c ng với Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc Ta, Đinh Văn H và Nguyễn Văn N thực hiện 04 vụ trộm c p tài sản trên địa bàn huyện T. Tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt là máy d u của nh ng ngư i nuôi tôm trên địa bàn huyện T. Tổng giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt là 19.612.500 đồng. Khi thực hiện tội phạm các bị cáo có sự phân chia vai trò cụ thể, mỗi bị cáo thực hiện một công đoạn khác nhau để dễ dàng chiếm đoạt tài sản của ngư i bị hại. Sau khi bị phát hiện, bị cáo M còn bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố và xét xử.
Bản thân bị cáo M có 01 tiền án về tội trộm c p tài sản chưa được xóa nay lại tiếp tục phạm tội nên l n phạm tội này thuộc trư ng hợp tái phạm theo qui định tại điểm g khoản 1 điều 48 Bộ lu t hình sự . Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm c p tài sản” và áp dụng điểm a khoản 2 điều 138 Bộ lu t hình sự để xét xử là có cơ sở đúng pháp lu t.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở h u tài sản của công dân được pháp lu t bảo vệ. Mọi hành vi trái pháp lu t xâm phạm đến tài sản hợp pháp của ngư i khác sẽ bị xử lý nghiêm kh c. Nh n thức được điều đó, v y mà bị cáo đã cố ý lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở h u để chiếm đoạt tài sản, với bản tính lư i lao động, nhưng thích hưởng thụ bằng cách chiếm đoạt tài sản của ngư i khác để tiêu xài, bất chấp pháp lu t.
Xét yêu c u kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân c ng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo với mức án nêu trên là ph hợp với qui định của pháp lu t. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, nhưng bị cáo không cung cấp thêm tình tiết gì mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nh n yêu c u kháng cáo của bị cáo, gi nguyên bản án sơ thẩm.
Xét l i đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nh n.
Các ph n khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp lu t.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 2 điều 248 Bộ lu t tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Không chấp nh n yêu c u kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M.
Gi nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2017/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.
*Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ lu t Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (Hai) năm tù. Th i hạn t tính t ngày tạm gi 26/6/2017.
2/Về án phí : Bị cáo M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3/ Các ph n khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp lu t.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh TG; - Sở tư pháp tỉnh TG; - Phòng hồ sơ CA tỉnh TG; - Trại tạm giam CATG; - Phòng KTNV và THA (TAT); - TAND huyện T; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - THADS huyện T; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Thơ |