- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị V 14 (Mười bốn) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2022/HSST Ngày 20/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Tạ Thị Thà.
- Bà Nguyễn Anh Thư.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Trung - Thư ký Tòa án nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2022; Đối với bị cáo:
Nguyễn Thị V, sinh năm 1973, tại Hà Nội. ĐKHKTT: Thôn L, xã L, huyện M, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số 18, ngõ 317, phố B, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn Thuộc, sinh năm 1933 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Liệp, sinh năm 1935 (đã chết); Gia đình có 09 anh em, bị cáo là con thứ; Có chồng là: Phạm Văn Tuyên, sinh năm 1973; Có hai con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 36 do Công an quận H, Thành phố Hà Nội lập ngày 29/01/2022;
Bị cáo tại ngoại, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố:
Hồi 18 giờ ngày 19/01/2021, tại quán hàng nước ở khu vực đối diện đình Đ, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội, lực lượng công an kiểm tra phát hiện Nguyễn Thị V (Là chủ quán) đang có hành vi tổ chức cho các đối tượng khác đánh bạc dưới hình thức chơi lô, đề sát phạt nhau bằng tiền. Lực lượng công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng và bàn giao cho Cơ quan điều tra để xác minh làm rõ.
Quá trình điều tra Nguyễn Thị V khai nhận đã đứng ra nhận ghi số lô, đề đánh bạc với các đối tượng khách đến quán của mình từ khoảng vài ngày trước khi bị bắt. Hàng ngày, V bán hàng nước và trực tiếp ghi số lô, số đề cho khách tham gia đánh bạc tại quán. Hồi 18 giờ ngày 19/01/2021, Khi V đang ghi số lô, đề cho Trần Văn Tú sinh năm 1979, trú tại Số 6, Ngõ 356, phố K, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội tham gia đánh bạc, với số lô 38 x 5 điểm, thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng.
Cách thức V tổ chức cho các đối tượng đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, đề cụ thể như sau: Khách chơi lô, đề bỏ tiền ra mua các cặp số do mình tự lựa chọn từ cặp 00 đến cặp 99. V ghi các cặp số khách tự chọn và số tiền của mỗi người khách đánh bạc vào 01 tờ giấy nhỏ (Gọi là tích-kê) giao cho khách giữ và tổng hợp lại các số lô, đề của tất cả khách đánh bạc vào một tờ giấy (Gọi là bảng cáp lô, đề), để làm cơ sở tính toán thắng thua với khách đánh bạc sau khi có kết quả xổ số hàng ngày. Cách thức tính toán thắng thua dựa vào kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc được mở thưởng cùng ngày. Nếu khách chọn số lô trùng với 02 số cuối của tất cả các giải xổ số, số đề trùng với 02 số cuối giải đặc biệt là khách thắng. Cứ 01 điểm lô, khách phải bỏ ra 23.000 đồng tiền gốc, nếu thắng thì khách được nhận 80.000 đồng; Với số đề nếu thắng, khách sẽ được nhận gấp 70 lần số tiền khách bỏ ra đánh bạc; Nếu thắng lô xiên 2 khách sẽ được nhận gấp 10 lần, lô xiên 3 sẽ được nhận gấp 40 lần số tiền khách bỏ ra đánh bạc. V chịu trách nhiệm trả tiền cho khách thắng và hưởng số tiền khách bỏ ra đánh bạc nếu khách thua.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ khi bắt quả tang gồm:
- Thu của Nguyễn Thị V 01 bảng cáp ghi số lô đề ngày 19/01/2021; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam-sung J4 màu đồng (Đã qua sử dụng) và số tiền 115.000 đồng.
- Thu của Trần Văn Tú 01 tờ tích-kê ghi các số lô: “L:38x5đ”.
Theo tính toán, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của Nguyễn Thị V và các đối tượng, thể hiện tại bảng cáp lô, đề đã thu giữ nêu trên, là 32.366.000 đồng, gồm: Tiền chơi đề 4.410.000 đồng, tiền chơi lô xiên 1.000.000 đồng và tiền chơi lô 26.956.000 đồng. Trong tổng số tiền sử dụng đánh bạc nêu trên, số tiền Trần Văn Tú sử dụng để đánh bạc là 115.000 đồng; Số tiền còn lại là của khách không quen biết tham gia đánh bạc.
Chiếc điện thoại di động đã thu giữ là đồ dùng cá nhân, không chứng minh được có liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Nguyễn Thị V.
Số tiền 115.000 đồng đã thu giữ, là tiền sử dụng để đánh bạc, được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận H để chờ quyết định xử lý trong quá trình xét xử. Số vật chứng còn lại là 01 bảng cáp lô, đề và 01 tờ tích-kê được chuyển làm tài liệu lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 114/CT-VKS-HM, ngày 19/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Thị V về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
[2] Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị V thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình và hòa nhập xã hội.
Kiểm sát viên nắm quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị V như bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hồi đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 16 tháng tù. Miễn phạt tiền cho bị cáo.
- Đối với 01 bảng cáp ghi các số lô, đề ngày 19/01/2021 thu giữ của Nguyễn Thị V; 01 tờ tích kê số lô “L: 38x5đ” thu giữ của giữ của Trần Văn Tú lưu giữ trong hồ sơ làm chứng cứ của vụ án.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 115.000 đồng.
Theo giấy nộp tiền ngày 05/02/2021 vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự quân Hoàng Mai tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
- Buộc bị cáo truy nộp ngân sách nhà nước số tiền ghi lô đề mà có 500.000đ.
[3] Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của mình là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, nên không có tranh luận với Kiểm sát viên.
[4] Lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương vì bị cáo thường xuyên ốm đau và đang nuôi dưỡng mẹ già có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét về hành vi vi phạm bị truy tố:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, cũng như tại biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định; phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; của người làm chứng, vật chứng thu được của vụ án, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ ngày 19/01/2021, tại quán hàng nước ở khu vực đối diện đình Đ, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội tổ công tác Công an phường Đ, quận H, Hà Nội phát hiện bắt quả tang bị cáo Nguyễn Thị V đang có hành vi bán số lô đề cho Trần Văn Tú, sinh năm 1979, trú tại Số 6, ngõ 356, phố K, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội. Qua khám xét và thu giữ bảng tích kê của Nguyễn Thị V, bị cáo khai nhận bị cáo là người tổ chức đứng ra ghi số lô đề cho khách hàng, bị cáo không chuyển bảng cáp cho ai; nếu ai trúng thưởng thì bị cáo có trách nhiệm chi trả, còn lại bị cáo được hưởng một mình. Xác định tổng số tiền bị cáo tôt chức đánh bạc trong ngày 19/01/2021 trên bảng cáp, tích kê là: 32.366.000đ (Ba mươi hai triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Trong đó có 115.000 đồng thu giữ tiền bán lô đề cho Trần Văn Tú, bị cáo đã thu được tiền bán lô đề của ngày 19/01/2021 là 5.000.000đ, tuy nhiên số tiền này bị cáo dùng vào việc chi trả cho người chơi trúng lô đề của ngày hôm trước hết 4.500.000đ và chi tiêu cá nhân hết 500.000đ, số tiền còn lại do người chơi ghi nợ chưa thanh toán cho bị cáo. Như vậy bị cáo Nguyễn Thị V có hành vi Tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô đề cho nhiều người.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy hành vi tổ chức bán số lô đề nhằm mục đích được thua bằng tiền, với tổng số tiền bán số lô đề trong ngày 19/01/2021 trên bảng cáp, tích kê là: 32.366.000đ của bị cáo Nguyễn Thị V đã đủ yếu tố cấu thành phạm tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị V còn khai nhận có ghi lô, đề cho các đối tượng đánh bạc vào các ngày trước khi bị bắt, nhưng không còn lưu giữ các bảng thống kê hay tích-kê lô, đề những ngày trên, nên cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý.
. Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thị V là phạm tội nghiêm trọng, là nguy hiểm cho xã hội, Hành vi tổ chức đánh bạc của bị cáo đã xâm phạm tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, làm gia tăng tệ nạn cờ bạc, là tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng tới kinh tế và hạnh phúc của nhiều gia đình, đồng thời còn là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cần coi đây là những tình tiết giảm nhẹ được áp dụng tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử, xét bị cáo không có thu nhập hoặc tài sản riêng, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự.
. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Đối với 01 bảng cáp ghi các số lô, đề ngày 19/01/2021 thu giữ của Nguyễn Thị V; 01 tờ tích kê số lô “L: 38x5đ” thu giữ của giữ của Trần Văn Tú lưu giữ trong hồ sơ làm chứng cứ của vụ án.
- Đối với số tiền 115.000 đồng thu giữ của bị cáo là số tiền liên quan đến hành vi phạm tội mà có, nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền còn lại do người chơi ghi nợ, nên không buộc bị cáo phải nộp sung quỹ nhà nước số tiền này.
- Đối với số tiền 500.00đ do bị cáo ghi lô mà có và bị cáo đã chi tiêu cá nhân , đề đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo truy nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ.
. Các vấn đề khác:
Đối với Trần Văn Tú, tham gia đánh bạc với số tiền 115.000đồng. Quá trình xác minh nhân thân, Tú chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an quận H đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tú về hành vi nêu trên, là có căn cứ.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm đ khoản 1 Điều 32; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Điều 89; 135, 136, 331, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 23 và Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị V 14 (Mười bốn) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
2. Biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 115.000đ (Một trăm mười lăm nghìn đồng).
Theo giấy nộp tiền ngày 05/02/2021 vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự quân Hoàng Mai tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
Buộc bị cáo truy nộp ngân sách nhà nước số tiền ghi lô đề mà có 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
3.Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND quận H; - Công an quận H; - Chi cục thi hành án dân sự quận H; - UBND phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Phương |