vanban.org

Bản án 138/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.

Xử phạt: LÊ VĂN C 01 (mô ̣t) năm tù về tội “Trô ̣m cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt ta ̣m giữ, ta ̣m giam: 12/5/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ VĂN C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2017/HSST
Ngày : 16/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Minh Đức

2/ Ông Vũ Trung Kiên

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo- Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 148/2017/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ VĂN C; giới tính: nam; sinh năm: 1983 tại Thành phố Hồ Chi Minh;́ quốc tịch: Việt Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không đăng ký; chỗ ở (ta ̣m trú): Số nhà 93/53 Đường 100 , phường 14, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: mù chữ; con ông: Lê Văn U và bà Ngô Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự:không; tạm giữ, tạm giam: 12/5/2017.

(Có mặt tại phiên tòa)

Ngườ i bi ̣ hại:Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1989

Địa chỉ: số nhà 373/1/137 đườ ng L, phường 9, quận T, Thành phố Hồ Chi Minh.́

(Vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1979

Địa chỉ: số nhà 102/7K ấp D , xa T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.̃

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Bà Trần Kim T, sinh năm 1979

Địa chỉ: F5/21 Ấp 6, xã V , huyện B,Thành phố Hồ Chi Minh.́

(Có mặt tại phiên tòa)

NHẬN THẤY:

Bị cáo Lê Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 07h30 ngày 12/5/2017, Lê Văn C, đi bộ đến khu vực quậnTân Bình tìm bạn, khi đến trước nhà số 373/1/135 Lý Thường Kiệt, phường 09, quâ ̣n Tân Binh, C phát̀ hiện thấy chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo, màu đỏ đen, biển số: 59Y1-580.00 của anh Nguyễn Văn B đang dựng trước nhà không có người trông coi (xe không có khóa cổ,chìa khóa vẫn cắm trên xe) nên C nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. C đi đến dắt bộ xe gắn máy trên đi được khoảng 50m thì bị anh B phát hiện tri hô “có người lấy xe”, lúc này có anh Lâm Văn H đang làm công trình gần đó nghe tiếng tri hô của anh B nên chạy bộ đuổi theo đạp ngã xe, C bỏ xe lại chạy bộ được khoảng 10 mét đến trước số 373/65/54 Lý Thường Kiệt, phường 09, quận Tân Bình thì bị anh H cùng quần chúng nhân dân bắt giữ giao cho Công an phường 09, quận Tân Bình xử lý.

Vât chứng: .

-01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bị nứt màn hình, có Model: RM-944, điện thoại cũ đã qua sử dụng (thu giữ của C).

-01 xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo, màu đỏ đen biển số: 59Y1-580.00, số khung: RLCN2B5204Y-000456, số máy: 2B52-00456. Kết quả định giá tài sản trong tố tụng hình sự tại thời điểm mất trộm xe có trị giá 4.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 14 tháng 7 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản”theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn C về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo tra ̣ng của Viện kiểm sát đã truy tố và khai:

Khoảng 07h30 ngày 12/5/2017, khi đi ngang qua trước nhà số 373/1/135 Lý Thường Kiệt, phường 09, quâ ̣n Tân Bình, bi ̣ cáo thấy chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo dựng trướ c nhà nhưng không có ngườ i trông coi, nay sinh ỹ

́ đi ̣nh trô ̣m cắp để bán lấy tiền tiêu xài, nên bi ̣ cáo đa đến lấy trô ̣̃

m xe dắt đi được mô ̣t đoa ̣n thi bi ̣̀ quần chúng bắt giữ giao cho Công an.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, căn cứ kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, căn cứ các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự quy định. Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Lê Văn C đã pha ̣m vào tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 như cáo tra ̣ng của Viê ̣n kiểm sát đa truy tỗ

́.

Hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo là nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i, đa xâm pha ̣̃

m tớ i quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luâ ̣t nhà nướ c bảo vê ̣, gây ảnh hưở ng xấu đến trâ ̣t tự, tri ̣ an ở đi ̣a phương.

Bi ̣ cáo nhâ ̣n thứ c được hành vi trô ̣m cắp tài sản của người khác là vi pha ̣m pháp luâ ̣t, nhưng do tham lam, tư lợi nên bị cáo đa cỗ ́ ý phạm tội, vì vậy cần xử bị cáo mức án phù hợp mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừ a chung.

Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; pha ̣m tô ̣i nhưng chưa gây ra thiê ̣t ha ̣i. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiê ̣m dân sự:

Căn cứ vào hồ sơ vu ̣ án, nhâ ̣n thấy ta ̣i cơ quan điều tra ngườ i bi ̣ ha ̣i khai mua xe của mô ̣t ngườ i ba ̣n tên Quân (không rõ lai li ̣ch) vào khoảng tháng 6 năm 2016 vớ i giá 2.000.000 đồng nhưng không làm giấy tờ mua bán, không có giấy đăng ký xe. Sau khi mua anh B làm phương tiê ̣n đi la ̣i và bi ̣ lấy trô ̣m vào ngày 12/5/2017. Anh B đề nghi ̣ được cho nhâ ̣n la ̣i xe. Sau khi xem xét, hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy do ngoài lờ i trinh bà

̀y thi anh B không̀ có căn cứ nào chứ ng minh anh là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo, màu đỏ đen biển số: 59Y1-580.00 (biển số giả) nên không có cơ sở để trả la ̣i xe cho anh B.

Về vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bị nứt màn hình, có Model: RM-944, CODE: 059S7R9, có số imei 1: 351856/07/910012/9, số imei 2: 351856/07/910013/7 (kèm pin và simcard), do Công an thu giữ của bị cáo. Qúa trinh điềù tra xác đi ̣nh là tài sản riêng của bi ̣ cáo, không liên quan đến hành vi pha ̣m tô ̣i nên trả la ̣i cho bi ̣ cáo.

- Đối với 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo, màu đỏ đen biển số: 59Y1-580.00, số khung: RLCN2B5204Y-000456, số máy: 2B52-00456 do Công an thu giữ.

Kết quả xác minh được biết chiếc xe do Công an thu giữ có biển số thâ ̣t là 59D1-531.30 do bà Trần Kim T đứng tên đăng ký. Bà T cho biết năm 2013, bà cho con gái là Hà Phương T mượn xe máy đi chơi. Sau đó, T về nói là xe máy bị công an giữ nhưng vi không̀ biết công an nào thu giữ nên bà không trinh bà

́o cho Công an đi ̣a phương. Bà T cho biết chưa mua bán, tặng cho ai chiếc xe máy này và hiê ̣n nay bà đang còn giữ giấy tờ đăng ký xe.

Xác minh biển số xe 59Y1-580.00 được biết biển số trên được cấp cho chiếc xe gắn máy hiệu Honda Airblade FI, màu đen, có số khung: RLHJF4611EY-020079, số máy: JF46E-2028712 (không trùng khớp với số khung, số máy của xe đang tạm giữ) do bà Huỳnh Thị T đứng tên đăng ký. Qua làm việc, bà T cho biết vào khoảng tháng 6/2014 bà bị mất trộm, vu ̣ viê ̣c đã được bà trinh bà

́o cho Công an xã Tân Thới Nhi, huyê ̣̀

n Hốc Môn.

Xét thấy chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Nouvo, màu đỏ đen có số khung: RLCN2B5204Y-000456, số máy: 2B52-00456 do Công an thu giữ là tài sản hợp pháp củ a bà Trần Kim T nên Hô ̣i đồng thống nhất trả la ̣i cho bà T.

- Đối với 01 biển số 59Y1-580.00, ta ̣i phiên tòa bà T cho biết không có nhu cầu nhâ ̣n la ̣i nên Hô ̣i đồng xét xử thống nhất ti ̣ch thu tiêu hủ y.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt: LÊ VĂN C 01 (mô ̣t) năm tù về tội “Trô ̣m cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt ta ̣m giữ, ta ̣m giam: 12/5/2017.

Á p du ̣ng khoản 2 Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự; khoản 1, điểmb,đkhoản 2 Điều 76 Bộ

̀

luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bà Trần Kim T chiếc xe gắn máy có số khung: RLCN2B5204Y-000456, số máy: 2B52-00456 (Tinh tra ̣̀

ng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 142/PNK ngày 07/7/2017 của Công an quận Tân Bình).

Trả la ̣i cho bi ̣ cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bị nứt màn hình, có Model: RM-944, CODE: 059S7R9, có số imei 1: 351856/07/910012/9, số imei 2: 351856/07/910013/7 (kèm pin và simcard) (Tinh tra ̣̀

ng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 142/PNK ngày 07/7/2017 của Công an quận Tân Bình).

Ti ̣ch thu tiêu hủ y biển số xe 59Y1-580.00.

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi vá ̀ lê ̣ phi Tó ̀a án:

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại điều 26 Luật Thi hành án (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngườ i bi ̣ ha ̣i vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ