- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Đình Tuấn - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lưu Đình T 08 (Tám) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024 đến ngày 06/3/2025.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2025/HS-ST Ngày: 12 - 8 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Hoa
Bà Nguyễn Thị Ngân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025. Đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Đình T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 12 tháng 6 năm 1985, tại huyện Nghi Lộc, tỉnh N; nơi cư trú: Xóm 7, xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc (nay là xã Nghi Lộc), tỉnh N; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Đình Tương (đã chết) và bà Phạm Thị Lý, sinh năm 1957; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai; có vợ Lê Thị Lộc, sinh năm 1985 và có ó 02 con, lớn nhất 14 tuổi, nhỏ nhất 10 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2016 bị Công an phường Hưng Bình, thành phố V, N xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024 đến ngày 06/3/2025. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lưu Đình T làm nghề lái xe ô tô tải chạy tuyến N - Viêng Chăn, (Lào) chuyên chở các mặt hàng nông sản từ Lào về Việt Nam. Quá trình ở Thủ đô Viêng Chăn (Lào), T mua pháo rồi gửi tại các quán tạp hóa với mục đích để đưa về Việt Nam bán cho người khác vào dịp Tết Nguyên đán năm 2025. Trong thời gian từ tháng 10 đến tháng 12/2024, T đã mua được tổng cộng 36 (ba mươi sáu) cối pháo loại 49 quả với giá là 375.000 đồng/01 cối và 96 cối pháo loại 36 quả với giá 208.000 đồng/01 cối.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, T điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát U9 - 6686 kéo theo rơ mooc mang biển kiểm soát U9 - 1984 trên xe chở hàng hoá là xi măng, sắt thép di chuyển từ xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh N đi thủ đô Viêng Chăn (Lào). Trên đường di chuyển về Việt Nam, T dừng xe tại các cửa hàng tạp hóa để nhận các thùng pháo đã mua từ trước rồi cất dấu trong thùng đồ nghề của xe ô tô và rơ mooc. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18/12/2024, T điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát U9 - 6686 kéo theo rơ mooc mang biển kiểm soát U9 - 1984 nhập cảnh tại Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo rồi di chuyển đến thị trấn Phố Châu, huyện Hương Sơn, tỉnh T. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô về Nhà máy chế biến tinh bột sắn Intimex thuộc xã Thanh Ngọc, huyện T rồi đậu xe trong bãi chờ xuống hàng của Nhà máy chế biến tinh bột sắn Intimex. T mở bạt rơ mooc ra lấy 07 (bảy) thùng pháo xuống và cất dấu trong thùng đồ nghề ở đầu xe (phía bên lái) 01 (một) thùng pháo, trong thùng đồ nghề của rơ mooc (phía bên lái) 06 (sáu) thùng pháo. Cất giấu xong, T điều khiển xe vào Nhà máy chế biến tinh bột sắn Intimex để trả hàng (sắn củ). Sau khi trả hàng xong, T điều khiển xe ô tô đi ra khỏi Nhà máy sắn theo hướng ra Quốc lộ 46 thì bị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát kinh tế và Công an huyện T, tỉnh N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, giữ toàn bộ pháo của Lưu Đình T.
Ngày 20 tháng 12 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã phối hợp với Cơ quan chức năng tiến hành mở niêm phong, lấy mẫu gửi đi giám định đối với toàn bộ số tang vật là pháo thu giữ của Lưu Đình T, kết quả:
- 04 (bốn) thùng cát tông, bên trong mỗi thùng chứa 24 (hai mươi bốn) khối hình hộp có đặc điểm tương đồng nhau, mỗi khối có kích thước là (15x15x10) cm, bên ngoài mỗi khối được bọc bằng giấy nhiều màu, có in chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối được cấu tạo bởi 36 (ba mươi sáu) khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng giây dẫn. Tổng cộng có 96 khối.
- 03 (ba) thùng cát tông, bên trong mỗi thùng chứa 12 (mười hai) khối hình hộp có đặc điểm tương đồng nhau, mỗi khối có kích thước là (17x17x12) cm, bên ngoài mỗi khối được bọc bằng giấy nhiều màu, có in chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối được cấu tạo bởi 49 (bốn mươi chín) khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng giây dẫn. Tổng cộng có 36 khối.
Tổng khối lượng 07 (bảy) thùng cát tông bên trong chứa 132 khối hình hộp có khối lượng là: 177,25 kg (Một trăm bảy mươi bảy phẩy hai mươi lăm ki-lô-gam).
Ngày 20 tháng 12 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSKT) Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu giám định số 3898/QĐ-CSKT trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N giám định về pháo đối với toàn bộ số tang vật là pháo nổ thu giữ của Lưu Đình T. Ngày 26 tháng 12 năm 2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N có Kết luận giám định số: 41/KL-KTHS(Đ2-CN) kết luận: “Các mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7 thu giữ của Lưu Đình T gửi giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ”.
Bản cáo trạng số 104/CT-VKS-P3 ngày 08/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N quyết định truy tố bị cáo Lưu Đình T về tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lưu Đình T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 (bốn) thùng cát tông có 96 khối pháo nổ.
+ Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) thùng cát tông có 36 khối pháo.
+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng ghi nhãn hiệu IPHONE 6 màu trắng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Phần tranh luận:
Bị cáo Lưu Đình T không tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Đình T hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ xác định: Trong thời gian lái xe cho Công ty từ Việt Nam qua Lào và ngược lại, Lưu Đình T là lái xe của Công ty TNHH Thương mại xuất nhập khẩu và vận tải Lào - Việt đã có hành vi liên hệ và đặt mua pháo nổ tại các cửa hàng tạp hoá ở Lào với mục đích đưa về Việt Nam bán lại kiếm lời vào dịp Tết nguyên đán năm 2025. Từ ngày 12-18/12/2024, sau khi bốc hàng hoá (sắn củ) lên xe để chở về Việt Nam. Trên đường đi về, T thu gom số pháo đã mua được cho lên xe, cất giấu phía dưới sắn củ. Ngày 18/12/2024, T điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát U9 - 6686 kéo theo rơ mooc mang biển kiểm soát U9 - 1984 nhập cảnh vào Việt Nam tại Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo. Vào lúc 16 giờ 10 phút, ngày 19/12/2024, khi T điều khiển xe ô tô chở hàng cấm là pháo nổ đi đến địa phận tại xã Thanh Ngọc, huyện T, tỉnh N thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSKT) Công an tỉnh N bắt quả tang, khối lượng pháo nổ là 177,25 kg (Một trăm bảy mươi bảy phẩy hai mươi lăm ki-lô-gam). Với hành vi trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N truy tố bị cáo Lưu Đình T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lưu Đình T có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ trong quân đội; bố bị cáo là ông Lưu Đình T được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân Chương kháng chiến, Huân Huy chương chiến sĩ vẻ vang, Huân chương chiến công...đây là các tính tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét hành vi, tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước Việt Nam về hàng cấm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi bất chính nên vẫn thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần có mức án nghiêm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong thời gian đủ dài nhằm trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích đồng thời răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lưu Đình T có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về các quyết định và hành vi tố tụng trong qúa trình điều tra, truy tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đối với nội dung Lưu Đình T khai nhận liên hệ và mua pháo nổ của các cửa hàng tạp hóa ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nhưng căn cứ lời khai của T không xác định được thông tin, địa chỉ cụ thể của các chủ cửa hàng và các cửa hàng tạp hoá ở Lào. Vì vậy, không có căn cứ để xác minh và xử lý.
- Đối với nội dung Lưu Đình T khai nhận, cất dấu pháo trong thùng xe rơ mooc dưới các củ sắn để nhập cảnh vào nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua Cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo, tỉnh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành làm việc với các cá nhân có liên quan tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu Treo xác định được: Thực hiện theo quy định tại Luật Hải quan năm 2015; Điều 74 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ; Căn cứ thông tin trên Hệ thống quản lý phương tiện vận tải xuất nhập cảnh và thông tin quản lý rủi ro của Ngành Hải quan thì phương tiện xe ô tô mang biển kiểm soát U9 - 6686 kéo theo rơ mooc mang biển kiểm soát U9 - 1984 do Lưu Đình T điều khiển thuộc đối tượng miễn kiểm tra thực tế phương tiện nên không tiến hành kiểm tra phương tiện, không phát hiện phương tiện có cất dấu pháo nổ. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không có căn cứ để xem xét trách nhiệm đối với các công chức Hải quan tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, tỉnh T.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 99 khối pháo nổ (còn lại sau khi phục vụ giám định) gồm: 72 khối pháo nổ có cùng đặc điểm, có kích thước (15x15x10)cm bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu có in chữ nước ngoài, bên trong cấu tạo bởi 36 khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn và 27 khối pháo nổ có cùng đặc điểm, có kích thước (17x17x12)cm bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu có in chữ nước ngoài, bên trong cấu tạo bởi 49 khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn, có tổng khối lượng là 132,9 kg là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng, số IMEI 353324071161209, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Lưu Đình T phải chịu án phí hình sự sơ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lưu Đình T 08 (Tám) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024 đến ngày 06/3/2025.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Lưu Đình T.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 72 khối pháo nổ có cùng đặc điểm, có kích thước (15x15x10)cm bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu có in chữ nước ngoài, bên trong cấu tạo bởi 36 khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn và 27 khối pháo nổ có cùng đặc điểm, có kích thước (17x17x12)cm bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu có in chữ nước ngoài, bên trong cấu tạo bởi 49 khối hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng dây dẫn, có tổng khối lượng là 132,9 kg. Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng thuộc Công an tỉnh N; đặc điểm vật chứng theo phiếu nhập kho ngày 06/01/2025.
- Trả lại cho bị cáo Lưu Đình T 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng ghi nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng, số IMEI 353324071161209.
Đặc điểm vật chứng theo tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh N ngày 15 tháng 5 năm 2025.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lưu Đình T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án lên Toà phúc thẩm, Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hoa
Nguyễn Thị Ngân
Phạm Hồng Trang
| Nơi nhận: - Toà P.thẩm TAND Tối cao tại HN; - Viện P.thẩm 1,VKSND Tối Cao - VKSND tỉnh N; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh N; - THADS tỉnh N; - Bị cáo; - UBND xã Nghi Lộc, tỉnh N; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Trang |