- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn C và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo: Vũ Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2017/HS-ST. Ngày: 25/10/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lân. Các Hội thẩm nhân dân:
1, Bà Ngô Thị Thu Hiền.
2, Ông Dương Xuân Đính.
Thư ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng, Thư ký Toà án nhân dân huyện ĐA. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA tham gia phiên toà: Ông Đỗ Cao Chí, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 25 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ĐA, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 144/2017/HS-ST ngày 02/10/2017 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: VŨ VĂN C, sinh ngày 19/7/1998. ĐKHKTT: Xóm 2, xã HH, huyện HH, tỉnh NĐ; Chỗ ở: Thôn HD, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Vũ Thế N (sn1968), con bà Lâm Thị Ng (sn1967); Theo Danh bản, chỉ bản số 322 lập ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Công an huyện ĐA bị cáo không có tiền án, tiền sự; Tạm giữ: Từ ngày 19/7/2017 đến ngày 28/7/2017; Tạm giam: Từ ngày 28/7/2017. Có mặt.
2, Họ và tên: VŨ CÔNG H, sinh ngày 18/8/1998; ĐKHKTT: Xóm 2, xã HH, huyện HH, tỉnh NĐ; Chỗ ở: Số 1, ngõ 195/91/9, phố Trần C, phường CN 1, quận Bắc TL, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Sinh viên Trường Đại học M Hà Nội; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Vũ Văn H (sn1973), con bà Nguyễn Thị Tr (sn1976); Theo Danh bản, chỉ bản số 323 lập ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Công an huyện ĐA bị cáo không có tiền án, tiền sự; Tạm giữ: Từ ngày 19/7/2017 đến ngày 27/7/2017. Đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
* Người bị hại: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: Thôn 8, xã YP, huyện YL, tỉnh VP; chỗ ở: Thôn HD, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Xuân C, sinh năm 1956; trú tại: Thôn HD, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/7/2017, anh Nguyễn Thành L (sn1993; HKTT: Thôn 8, xã YP, huyện YL, tỉnh VP; chỗ ở: Thôn HD, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội) có đơn trình báo cơ quan Công an huyện ĐA, về việc: Khoảng 08h00’ ngày 18/7/2017, anh L đi làm về và có để chiếc xe máy Yamaha Exciter màu đỏ-đen-trắng, biển kiểm soát: 88F1-347.39 ở khu nhà trọ tại thôn HD, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội, sau đó đến khoảng 17h00’ cùng ngày thì phát hiện chiếc xe đã bị kẻ gian trộm cắp. Căn cứ vào đơn trình báo của anh Nguyễn Thành L và tài liệu điều tra thu thập được, ngày 19/7/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện ĐA đã ra Lê ̣nh bắt khẩn cấp đối vớ i Vũ Văn C (sn1998; HKTT: Xóm 2, xã HH, huyện HH, tỉnh NĐ; chỗ ở: Thôn HD, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội) về hành vi “Trộm cắp tài sản” và Vũ Công H (sn1998; HKTT: Xóm 2, xã HH, huyện HH, tỉnh NĐ; chỗ ở: Số 1, ngõ 195/919, phố Trần C, phường CN 1, quận Bắc TL, Thành phố Hà Nội) về hành vi “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã điều tra làm rõ:
Vũ Văn C và chị Bùi Thị Ng (sinh năm 1993; HKTT: Thôn ĐT, xã QL, huyện NQ, tỉnh NB) cùng thuê trọ tại tầng 3 (phòng 206) của nhà ông Nguyễn Xuân C (sn1956; trú tại: Thôn HD, xã KC, huyện ĐA) địa chỉ: Thôn HD, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội.
Khoảng 07h30’ ngày 18/7/2017, C xuống tầng một, nơi để xe máy của khu trọ dắt xe máy Honda Wave, biển kiểm soát: 18H1-412.67 để chở chị Ng đi làm tại Khu công nghiệp TL. C phát hiện chiếc xe máy Yamaha Exciter màu đỏ-đen-trắng, biển kiểm soát: 88F1-347.39 của anh Nguyễn Thành L (sn1993; HKTT: Thôn 8, xã YP, huyện YL, tỉnh VP, ở cùng khu trọ) dựng dưới tầng 1 khu trọ, không khóa cổ, không khóa càng, đầu xe hướng ra cửa chính nên nảy sinh ý định trộm cắp.
Sau khi chở chị Ng đến Khu công nghiệp ThL, C quay về quán “Nét 90” của anh Trần Văn M (sn1980; trú tại: Thôn HD, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội) thuộc địa phận thôn HD, xã KC, huyện ĐA, cách nhà trọ của C khoảng 50m chơi Game. Khoảng 10 phút sau, C gửi xe máy tại quán “Nét 90” rồi đi bộ về nhà trọ. Khi về đến khu nhà trọ, C vẫn thấy chiếc xe máy Yamaha Exciter, BKS: 88F1-347.39 dựng tại tầng 1, phát hiện không thấy có người trông giữ nên C lên phòng trọ chuẩn bị “một đoạn dây điện dài khoảng 10cm, vỏ màu trắng (bằng nhựa) có lõi đồng bên trong” (BL188), một “áo mưa màu xanh, đeo khẩu trang” (BL188), làm công cụ phạm tội. Để tránh bị Camera của nhà trọ ghi hình, C xuống tầng 1 rồi đi ra bên ngoài nhà trọ mặc áo mưa, đeo khẩu trang, sau đó đi vào dắt lùi xe qua cửa phụ ra ngõ (BL191). Tại đây, C tháo rắc nối điện phía dưới mặt nạ xe, sau đó dùng đoạn dây điện chuẩn bị trước đấu nối để mở hệ thống điện của xe, rồi nổ máy đi sang khu vực quận Bắc TL, Hà Nội. Trên đường đi, C gọi điện đến số thuê bao 01688113115 và 01653519911 của Vũ Công H và bảo “Tí tao đi xe Exciter sang đấy, có đi thì đi” (BL188, 200) và hẹn gặp H tại khu trọ của H.
Khoảng 30 phút sau, C đến khu nhà trọ của H tại địa chỉ: Số 1, ngõ 195/91/9, phố Trần C, phường CN 1, quận Bắc TL, Thành phố Hà Nội. H ra gặp C thì thấy C đi xe máy lạ nên hỏi nguồn gốc xe, C cho biết xe mua trên mạng với giá 17.000.000 đồng, đồng thời C nhờ H bóc đề can màu đỏ dán thêm ở bên ngoài thân xe để thay đổi đặc điểm ban đầu của xe, tránh bị lực lượng Công an phát hiện. Khi bóc đề can, H thấy xe không có chìa khóa điện xe nên hỏi lại về nguồn gốc thì C nói là “xe nhảy” (BL157,163,167), không có giấy tờ (ý nói xe trộm cắp), C mới mua trên mạng với giá 17.000.000 đồng nên không có chìa khóa mà phải đấu điện. Sau khi bóc đề can xong, C hỏi vay H 1.000.000 đồng để đi thay ổ khóa điện xe, Huấn đồng ý. C chở H đến quán sửa chữa xe máy “TDL Racing” địa chỉ: Số 32, Lô 2, ĐL 2, quận HM, Thành phố Hà Nội của anh Mai Thanh T (sn1980; HKTT: Số 63, Phố V, phường ĐT, quận HBT, Thành phố Hà Nội, chủ cửa hàng) gặp anh Trịnh Văn V (sn1993; HKTT: Thôn H, xã ĐH, huyện YĐ, tỉnh TH - nhân viên của quán) để thay thế ổ khóa điện, mặt nạ xe và tháo biển kiểm soát 88F1-34739 theo yêu cầu của C. C thanh toán tiền sửa chữa hết 900.000 đồng, còn 100.000 đồng trả lại cho H. Sau đó, C chở H về phòng trọ của H. Tại đây, C cất giấu biển kiểm soát: 88F1-347.39 tại gầm giường ngủ của H. Đến khoảng 13h00’ cùng ngày, C ra về và nói “cho tao để nhờ xe ở đây, nếu đi đâu thì đi cẩn thận vì xe không giấy tờ” (BL200), H đồng ý cho C gửi xe tại khu trọ của H.
Quá trình điều tra cơ quan điều tra đa thu giữ
̃ được mô ̣t số vâ ̣t chứ ng liên quan gồm:
- Thu giữ của Vũ Văn C: 01 điện thoại di động Iphone 5s, vỏ màu xám, số imei: 355677071304873, bên trong lắp sim có số thuê bao 01675273384; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy số 018651 của xe máy biển kiểm soát: 18H1-412.67 mang tên Vũ Công H; 01 chiếc xe máy Honda Wave, sơn màu xanh- đen-bạc, biển kiểm soát: 18H1-412.67, số khung: 019552, số máy: 0019665; 01 quần soóc và 01 áo phông cộc tay;
- Thu giữ của Vũ Công H: 01 xe máy Yamaha Exciter, sơn màu trắng - đen, không có biển kiểm soát, số khung: 373441, số máy: 391350; 01 biển kiểm soát: 88F1-347.39; 01 chìa khóa có ghi chữ “VN”; 01 điện thoại Nokia 1280, vỏ màu trắng, số imei: 354148055703705, bên trong lắp sim thuê bao: 01276335123; 01 điện thoại Samsung Galaxy A8, vỏ màu trắng, số imei 1: 35300207018376801, số imei 2: 35300307018376601, bên trong lắp sim số thuê bao 01688113115 và 01653519911; 01 áo mưa màu xanh;
- Thu giữ của ông Nguyễn Xuân C: 01 USB nhãn hiệu Kington, vỏ màu đỏ, bên trong chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh tại hiện trường của vụ án.
Đối với chiếc khẩu trang và đoạn dây điện mà C dùng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội, cùng các phụ tùng của chiếc xe máy Yamaha Exciter, biển kiểm soát: 88F1-347.39 do C và anh Trịnh Văn V (nhân viên sửa xe ) khai đã vứt đi không nhớ thời gian và địa điểm cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiến hành truy tim.
̀
Tại Bản kết luận định giá số 334 ngày 04/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện ĐA kết luận giá trị tài sản anh L bị chiếm đoạt là 38.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn C và Vũ Công H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.
Ngoài ra, Vũ Văn C còn khai nhận: Khoảng 20h10’ ngày 11/7/2017, C trộm cắp xe máy Honda Wave, sơn màu xanh, biển kiểm soát: 18H1-412.67 của Vũ Công H dựng tại tầng 1 khu nhà H thuê trọ địa chỉ: Số 1, ngõ 195/91/9, phố Trần C, phường CN 1, quận Bắc TL, Thành phố Hà Nội. Sau đó, C mang chiếc xe máy trộm cắp được của H về phòng trọ của C cất giấu. Ngày 12/7/2017, Vũ Công H đến Công an phường Cn 1, quận Bắc TL, Hà Nội trình báo về việc bị trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện ĐA đã làm rõ hành vi trộm cắp chiếc xe máy biển kiểm soát: 18H1-412.67 của Vũ Văn C đồng thời bàn giao: 01 chiếc xe máy Honda Wave, sơn màu xanh-đen-bạc, biển kiểm soát: 18H1-412.67, số khung: 019552, số máy: 0019665; 01 đăng ký xe 18H1-412.67 mang tên Vũ Công H, cùng tài liệu có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc TL, Hà Nội để điều tra theo thẩm quyền.
Đối với chiếc xe máy Yamaha Exciter, sơn màu trắng-đen, số khung: 373441, số máy: 391350; 01 biển kiểm soát: 88F1-347.39 và chiếc chìa khóa xe, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Thành L nên ngày 31/7/2017, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả tài sản trên cho anh L là có căn cứ. Sau khi nhận lại tài sản, anh L không yêu cầu bồi thường dân sự gì, đề nghị xử lý các bị can theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc USB nhãn hiệu Kington, vỏ màu đỏ, bên trong chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh tại hiện trường của vụ án (tạm giữ của ông Nguyễn Xuân C) là vật chứng của vụ án, ông C không đề nghị lấy lại USB trên nên cần tiếp tục tạm giữ, chuyển Tòa án phục vụ công tác xét xử.
Đối với điện thoại di động Iphone 5s, vỏ màu xám, số thuê bao 01675273384, 01 áo phông cộc tay, 01 quần soóc (tạm giữ của C); 01 áo mưa màu xanh và 01 điện thoại Samsung Galaxy A8, vỏ màu trắng, số thuê bao: 01688113115 và 01653519911 (tạm giữ của H) là vật chứng của vụ án; chiếc điện thoại Nokia 1280, vỏ màu trắng, bên trong lắp sim số thuê bao 01276335123 là tài sản cá nhân của H, tiếp tục tạm giữ, chuyển Tòa án phục vụ công tác xét xử và đảm bảo thi hành án.
Tại phiên toà, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, thể hiện: Khoảng 08h00’ ngày 18/7/2017, bị cáo Vũ Văn C đã lén lút trộm cắp chiếc xe máy Yamaha Exciter, sơn màu trắng-đen, số khung: 373441, biển kiểm soát: 88F1-347.39 của anh Nguyễn Thành L có trị giá 38.000.000 đồng tại khu tầng 1 nhà trọ của ông Nguyễn Xuân C thuộc Thôn HD, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội mang đến gửi tại nơi ở của bị cáo Vũ Công H thuê trọ địa chỉ: Số 1, ngõ 195/91/9, phố Trần C, phường CN 1, quận Bắc TL, Thành phố Hà Nội; Bị cáo Vũ Công H biết rõ chiếc xe máy C có được là do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý cho bị cáo C gửi giữ tại nơi ở của mình.
Bản cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 28/9/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội đã truy tố: Bị cáo Vũ Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Công H về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 08h00’ ngày 18/7/2017, bị cáo Vũ Văn C đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là xe máy Yamaha Exciter, sơn màu trắng-đen, số khung: 373441, số máy: 391350; biển kiểm soát: 88F1-347.39 của anh Nguyễn Thành L có trị giá 38.000.000 đồng mang đến gửi tại nơi ở của Vũ Công H thuê trọ địa chỉ: Số 1, ngõ 195/91/9, phố Trần C, phường CN 1, quận Bắc TL, Thành phố Hà Nội. Hành vi của bị cáo Vũ Văn C có đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”; Hành vi của bị cáo Vũ Công H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 12 đến 15 tháng tù.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 250; Điểm p, h khoản 1 Điều 46; Điều 60; Điều 33 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Công H từ 10 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 20 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền các bị cáo do các bị cáo đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, kinh tế khó khăn.
+ Về dân sự: Không phải giải quyết.
+ Xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone 5s kèm theo sim số thuê bao thu giữ của Vũ Văn C và 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A8, kèm theo sim số thuê bao 01688113115 và 01653519911 của Vũ Công H; Trả lại cho Vũ Công H 01 chiếc điện thoại Nokia 1280 kèm theo sim thuê bao số 01276335123.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo phông cộc tay, 01 quần soóc, 01 áo mưa thu giữ của các bị cáo; 01 chiếc USB thu giữ của ông Nguyễn Xuân C.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ĐA, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi vủa mình là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức coi thường pháp luật, trật tự kỷ cương xã hội, lười lao động, tham lam tư lợi nên các bị cáo vẫn cố tình phạm tội.
Bị cáo Vũ Văn C có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Yamaha Exciter, biển kiểm soát: 88F1-347.39 của anh Nguyễn Thành L có trị giá 38.000.000 đồng mang đi tiêu thụ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Vũ Công H biết rõ chiếc xe máy Yamaha Exciter, biển kiểm soát: 88F1-347.39 là tài sản C có được do trộm cắp mà có nhưng bị cáo vẫn đồng ý cho bị cáo C gửi tại nơi ở của mình đã phạm tội: “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”, quy định tại Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân bị cáo Vũ Văn C: Ngoài hành vi trộm cắp tài sản của anh L ngày 18/7/2017 nêu trên, trước đó vào ngày 11/7/2017 bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe Honda Wave, sơn màu xanh-đen-bạc, biển kiểm soát: 18H1-412.67, số khung: 019552, số máy: 0019665 của Vũ Công H tại địa chỉ: Số 1, ngõ 195/91/9, phố Trần C, phường CN 1, quận Bắc TL, Thành phố Hà Nội; Ngày 03/10/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc TL khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Văn C về hành vi “Trộm cắp tài sản”, cho thấy bị cáo có nhân thân xấu. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là cơ sở để cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy vẫn cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và góp phần vào đấu tranh phòng ngừa chung.
. Đối với bị cáo Vũ Công H nhân thân chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận tội, có thái độ ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo tiếp tục học tập tại Trường Đại học M. Hà Nội là cơ sở để cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương theo quy định tại Khoản 1, khoản 2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự cũng có tác dụng để bị cáo có cơ hội sửa chữa, trở thành người có ích cho xã hội và thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.
. Về dân sự: Anh Nguyễn Thành L khai: Ngày 18/7/2017, anh bị Vũ Văn C chiếm đoạt chiếc xe Yamaha Exciter, biển kiểm soát: 88F1-347.39, trị giá 38.000.000 đồng. Quá trình điều tra, cơ quan Công an thu hồi được chiếc xe trả lại cho anh đầy đủ không thiệt hại gì nên anh không yêu cầu về dân sự. Như vậy, về phần dân sự trong vụ án này Tòa án không phải giải quyết.
. Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 5s kèm theo sim số thuê bao thu giữ của Vũ Văn C và 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A8, kèm theo sim số thuê bao 01688113115 và 01653519911 của Vũ Công H là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước;
Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia 1280 bên trong lắp sim thuê bao: 01276335123 là tài sản hợp pháp của Vũ Công H nay trả lại cho bị cáo sở hữu.
Đối với 01 chiếc USB nhãn hiệu Kington thu giữ của ông Nguyễn Xuân C là vật chứng tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.
Đối với 01 áo phông cộc tay, 01 quần soóc, 01 áo mưa thu giữ của Vũ Văn C, Vũ Công H là vật chứng vụ án không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
- Bị cáo: Vũ Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
- Bị cáo Vũ Công H phạm tội: “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
* Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo VŨ VĂN C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 7 năm 2017.
* Áp dụng Khoản 1 Điều 250; Điểm h, p khoản 1 Điều 46; Khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo VŨ CÔNG H 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Vũ Công H cho Ủy ban nhân dân xã HH, huyện HH, tỉnh NĐ quản lý, giám sát trong thời gian thử thách bản án.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 chiếc USB nhãn hiệu Kington thu giữ của ông Nguyễn Xuân C.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone 5s kèm theo sim số thuê bao thu giữ của Vũ Văn C và 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A8, kèm theo sim số thuê bao 01688113115 và 01653519911 của Vũ Công H;
- Trả cho Vũ Công Huấn sở hữu chiếc điện thoại Nokia 1280 kèm theo sim số thuê bao 01276335123;
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông cộc tay, 01 quần soóc, 01 áo mưa thu giữ của Vũ Văn C và Vũ Công H;
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2017 giữa Công an huyện ĐA và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐA).
* Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo Vũ Văn C, Vũ Công H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Thành L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ; Ông Nguyễn Xuân C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ về phần vật chứng có liên quan.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TANDTP. Hà Nội. - VKSNDTP. Hà Nội. - VKSND. huyện ĐA. - Chi cục THADS. huyện ĐA. - Bị cáo. - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Ngọc Lân |