- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Văn T tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đông Hải 1, quận Hải An, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2022/HS-ST Ngày 07-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Phương L
Bà Nguyễn Thị Tư
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2022/HSST- QĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Hồng L, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số 180 đường P, phường Đ, quận H, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh H và bà Lưu Thị M; có chồng là Nguyễn Quốc V và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định số 28/QĐ-XPHC ngày 18/9/2020 Công an quận Ngô Quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (đã được xóa); bị tạm giữ từ ngày 01/12/2021 đến ngày 10/12/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Phạm Thị Ngọc A, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 180 đường P, phường Đ, quận H, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hùng T và bà Giang Thị R; có chồng là Nguyễn Văn Q và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05/12/2021 đến ngày 10/12/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
3. Nguyễn Văn T, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1972 tại Thái Bình; nơi cư trú: Số 395 đường Đ, Đ, phường Đ, quận H, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Phạm Thị T (đều đã chết); có vợ là Vũ Thị H và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/12/2021 đến ngày 10/12/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 15 phút ngày 01/12/2021, tại nhà của Hoàng Thị Phương Th; tại nhà số 77/1 đường Đ, phường Đ, quận N, thành phố H, Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát hiện, bắt quả tang Th giúp mẹ chồng là Vũ Thị L1; trú tại tổ 19 phường L, quận K, thành phố H có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức lô đề, được thua bằng tiền. Qúa trình đấu tranh, Vũ Thị L1 khai trước đó L1 có nhận chuyển bảng số đề với Nguyễn Thị Hồng L.
Khoảng 22 giờ ngày 01/12/2021, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Hồng L. Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận hàng ngày L bán số lô, số đề cho những người đánh bạc, đồng thời nhận bảng đề từ Nguyễn Văn T và một số đầu mối bán lẻ khác rồi chuyển cho Phạm Thị Ngọc A để hưởng tiền % hoa hồng.
Ngày 05/12/2021, Cơ quan điều tra ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Thị Ngọc A.
Ngày 08/12/2021 Nguyễn Văn T đến Cơ quan Công an đầu thú.
Tiến hành khám xét chỗ ở của các đối tượng, Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Thị Hồng L 01 điện thoại Iphone 7 plus, 03 bảng đề ngày 01/12/2021 và 01 sổ ghi chép màu đen kích thước khoảng 10x18 cm, 01 máy tính casio, số tiền 1.120.000 đồng, 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng. Thu của Phạm Thị Ngọc A 01 điện thoại Samsung Galaxy A10 màu xanh, 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, 01 máy Ipad màu đen đã qua sử dụng, số tiền 2.720.000 đồng.
2
Cơ quan điều tra đã thực hiện kiểm tra và trưng cầu giám định, kết quả điện thoại Iphone 7 Plus của Nguyễn Thị Hồng L có hình ảnh bảng đề trong phần tin nhắn zalo. Cơ quan điều tra đã trích xuất, sao lưu các tài liệu có L quan đến hành vi tổ chức đánh bạc của các đối tượng. Riêng 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng thu của Nguyễn Thị Hồng L và các điện thoại, Ipad thu giữ của Phạm Thị Ngọc A không có hình ảnh, tài liệu gì L quan.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận: Do hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập, từ đầu tháng 11 năm 2021, các đối tượng nảy sinh ý định việc bán số đề và nhận chuyển bảng đề thuê qua tin nhắn zalo. Nguyễn Thị Hồng L là đầu mối trung gian, nhận bảng đề từ Nguyễn Văn T và một số đối tượng khác rồi chuyển cho các đầu mối trên, trong đó có em dâu của L là Phạm Thị Ngọc A để Ngọc A chuyển cho chủ đề. L trả cho các đầu mối bán lẻ theo tỷ lệ 07% số tiền đề, 04% số tiền bao, 23% số tiền xiên và 35% số tiền ba càng. L được đầu mối trên trả theo tỷ lệ 8% tiền đề, 05% tiền bao, 24% tiền xiên và 40% tiền ba càng (hưởng chênh lệch 01% số tiền đề, 01% số tiền bao, 01% số tiền xiên và 05% số tiền ba càng). Ngọc A được hưởng chênh lệch 0,2% trên tổng số bao đã chuyển.
Các đối tượng thống nhất cách thức đánh bạc dưới hình thức lô đề như sau: Căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng hàng ngày để trả thưởng cho khách. Nếu khách trúng đề (số khách đánh trùng với 02 số cuối giải đặc biệt) thì thắng số tiền gấp 90 lần số tiền đã đánh ban đầu, nếu khách trúng ba càng (số khách đánh trùng với 3 số cuối giải đặc biệt) thì thắng số tiền gấp 400 lần số tiền đánh ban đầu, nếu khách trúng bao (số khách đánh trùng với 02 số cuối của các giải mở thưởng) thì thắng số tiền gấp 3,5 lần số tiền đánh ban đầu, nếu khách trúng xiên 2 thì thắng số tiền gấp 14 lần số tiền đánh ban đầu, nếu khách trúng xiên 3 thì thắng số tiền gấp 48 lần số tiền đánh ban đầu, nếu khách trúng xiên 4 thì thắng số tiền gấp 180 lần số tiền đánh ban đầu.
Ngày 01/12/2021, Nguyễn Thị Hồng L trực tiếp nhận ghi số lô, số đề cho khách, đồng thời đã nhận bảng đề từ các đầu mối cụ thể như sau:
- Nguyễn Thị Hồng L bán cho khách được số tiền trên bảng đề là 13.660.000 đồng, gồm 11.210.000 đồng tiền bao, 550.000 đồng tiền đề, 1.900.000 đồng tiền xiên. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 01/12/2021, bảng đề này có số tiền khách trúng là 14.875.000 đồng.
- Nguyễn Văn T nhận ghi lô đề của những người đánh bạc và chuyển cho Nguyễn Thị Hồng L bảng đề có tổng số tiền là 5.400.000 đồng, gồm tiền đề là 3.900.000 đồng, xiên là 1.450.000 đồng, ba càng 50.000 đồng. Theo đó, T sẽ
3
hưởng lợi 624.000 đồng. Sau khi đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 01/12/2021, số tiền khách trúng là 5.540.000 đồng.
- Đối tượng có tài khoản zalo tên “Ran” chuyển cho L bảng đề có tổng số tiền là 25.220.000 đồng, gồm: 19.500.000 đồng tiền bao, 1.050.000 đồng tiền xiên, 4.400.000 đồng tiền đề và 270.000 đồng tiền ba càng. Sau khi đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 01/12/2021, tổng số tiền khách trúng trên bảng đề là 14.000.000 đồng.
- Phạm Thị Ngọc A bán số lô, số đề cho khách và chuyển cho L bảng đề với tổng số tiền là 3.860.000 đồng, gồm 1.540.000 đồng tiền xiên, 1.620.000 đồng tiền đề và 700.000 đồng tiền ba càng. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 01/12/2021, bảng đề Ngọc A chuyển cho L không có số trúng thưởng.
- Đối tượng có tài khoản zalo tên “Huyền” chuyển cho L bảng đề với tổng số tiền là 6.860.000 đồng, gồm 5.500.000 đồng tiền bao, 700.000 đồng tiền xiên, 615.000 đồng tiền đề, 45.000 đồng tiền ba càng. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 01/12/2021, bảng đề “Huyền” chuyển cho L không có số trúng thưởng.
Do đó, Nguyễn Thị Hồng L nhận ghi số lô, số đề từ những người tham gia đánh bạc và nhận bảng đề từ Nguyễn Văn T, Phạm Thị Ngọc A và đối tượng có tên zalo “Ran”, “Huyền” có tổng số tiền là 55.000.000 đồng, gồm: 11.085.000 đồng tiền đề, 36.210.000 đồng tiền bao, 6.640.000 đồng tiền xiên, 1.065.000 đồng tiền càng. Sau đó, Nguyễn Thị Hồng L dùng điện thoại chuyển cho các đầu mối trên, cụ thể như sau: L chuyển cho Phạm Thị Ngọc A bảng đề gồm các số bao với tổng số tiền là 36.110.000 đồng; L chuyển cho zalo “Nhóm đề” bảng đề với tổng số tiền là 18.890.000 đồng, gồm 11.085.000 đồng tiền đề, 100.000 đồng tiền bao, 1.065.000 đồng tiền ba càng và 6.640.000 đồng tiền xiên. Sau khi trừ đi % trả cho các đầu mối là Nguyễn Văn T, Phạm Thị Ngọc A và đối tượng có tên zalo “Ran”, “Huyền”, Nguyễn Thị Hồng L sẽ được hưởng lợi số tiền là 1.516.500 đồng.
Phạm Thị Ngọc A sau khi nhận bảng đề gồm toàn bộ các số bao với tổng số tiền là 36.110.000 đồng của L, Ngọc A chuyển lại cho chủ đề có tên là Hiền có tài khoản zalo “Hoa Cúc” (Ngọc A không rõ lai lịch, địa chỉ) và được hưởng số tiền hoa hồng là 784.820 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 01/12/2021, bảng đề mà Ngọc A chuyển cho Hiền khách trúng thưởng là 28.175.000 đồng.
Ngoài ra, các đối tượng còn khai: Trước đây Nguyễn Thị Hồng L có nhận chuyển bảng số đề với Vũ Thị L1, nhưng ngày 01/12/2021 L và L1 không chuyển cho nhau. Làm xong ngày nào, các đối tượng hủy các tài liệu L quan ngày hôm đó
4
để tránh bị phát hiện. Do vậy, về số tiền dùng đánh bạc và thu lợi bất chính những ngày trước đó của các đối tượng, hiện chưa chứng minh được. Bình thường Phạm Thị Ngọc A vẫn ngồi bán số đề trên đường Đằng Hải, quận Hải An, Hải Phòng. Riêng chiều ngày 01/12/2021, Ngọc A đến cửa hàng bán quần áo của em gái là Phạm Thị Mai Anh; địa chỉ số 172 đường Lương Khánh Thiện, phường Cầu Đất, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng chơi. Tại đây, Ngọc A đã nhận chuyển bảng số đề với L và “Hoa Cúc”.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A10 màu xanh, 01 điện thoại Samsung Galaxy J7, 01 máy Ipad màu đen, số tiền 2.720.000 đồng là tài sản của Phạm Thị Ngọc A; 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, số tiền 1.120.000 đồng là tài sản của Nguyễn Thị Hồng L, không L quan đến việc phạm tội. Ngày 25/02/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho Ngọc A và L. Riêng chiếc điện thoại Ngọc A và T sử dụng làm công cụ nhận, chuyển bảng đề, Ngọc A và T khai đã vứt đi, Cơ quan điều tra không thu hồi được. Thu giữ 01 điện thoại Iphone 7 plus của Nguyễn Thị Hồng L, 01 sổ ghi chép màu đen kích thước khoảng 10x18cm và 01 máy tính casio.
Các bị cáo chưa thanh toán chuyển tiền cho nhau và chưa được hưởng lợi thì bị Cơ quan điều tra triệu tập đến trụ sở làm việc.
Tại Bản Cáo trạng số 145/CT-VKSNQ ngày 31/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A, Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị Hồng L từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Phạt tiền bị cáo Phạm Thị Ngọc A từ 80.000.000 đồng đến
5
90.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước; áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Trừ cho bị cáo Nguyễn Văn T 02 ngày tạm giữ, từ ngày 08/12/2021 đến ngày 10/12/2021 bằng 06 ngày cải tạo không giam giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt. Miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L. Phạm Thị Ngọc A, Nguyễn Văn T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 322, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 plus và 01 máy tính Casio là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 01 sổ ghi chép màu đen kích thước khoảng 10x18cm; về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai của các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A, và Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều
6
tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Ngày 01/12/2021, Nguyễn Thị Hồng L có hành vi ghi nhận lô đề của những người đánh bạc đồng thời nhận bảng đề từ Nguyễn Văn T, đối tượng sử dụng zalo “Huyền”, “Ran”, Phạm Thị Ngọc A và chuyển cho “đầu cáp” trên là Phạm Thị Ngọc A, zalo “Nhóm đề”. Hành vi của bị cáo bị phát hiện sau khi đã có kết quả mở thưởng. Do vậy, Nguyễn Thị Hồng L phải chịu trách nhiệm với tổng số tiền là 89.415.000 đồng; cụ thể: Số tiền đánh bạc là 55.000.000 đồng, số tiền khách trúng là 34.415.000 đồng, nhằm hưởng lợi 1.516.500 đồng. Bị cáo Phạm Thị Ngọc A nhận, chuyển bảng đề cho Nguyễn Thị Hồng L và chuyển lại cho đối tượng sử dụng zalo “Hoa cúc” với tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 68.145.000 đồng; cụ thể: Số tiền đánh bạc là 39.970.000 đồng, số tiền khách trúng là 28.175.000 đồng, nhằm hưởng lợi 784.820 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi ghi nhận lô đề của những người đánh bạc và chuyển bảng đề cho Nguyễn Thị Hồng L với tổng số tiền dùng đánh bạc là 10.940.000 đồng; cụ thể số tiền đánh bạc là 5.400.000 đồng, số tiền khách trúng là 5.540.000 đồng, nhằm hưởng lợi 624.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong cộng đồng dân cư, nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng một mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xét vai trò đối với các bị cáo:
Trong vụ án này bị cáo L giữ vai trò là người nhận bảng đề từ Nguyễn Văn T, Phạm Thị Ngọc A rồi chuyển lại cho các chủ đề với số tiền tổ chức đánh
7
bạc là 89.415.000 đồng nên mức án của L phải cao hơn với bị cáo Phạm Thị Ngọc A, tham gia tích cực nhận, chuyển bảng đề với tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 68.145.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn T được hưởng mức án thấp nhất số tiền tham gia đánh bạc là 10.940.000 đồng.
- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A, Nguyễn Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét nhân thân các bị cáo Phạm Thị Ngọc A, Nguyễn Văn T đều không có tiền án, tiền sự; bị cáo Nguyễn Thị Hồng L nhân thân có 01 tiền sự nhưng đã được được xóa; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A có ông nội, ông ngoại tham gia quân đội, được tặng nhiều huân, huy chương kháng chiến; bị cáo Nguyễn Văn T “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” sau khi phạm tội đã ra “đầu thú”; bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A mỗi bị cáo đã nộp 2.000.000 đồng trước khi xét xử, theo biên lai số 0004061 và 0004062 ngày 07/12/2022, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A phạm tội nhằm mục đích vụ lợi. Đến nay hành vi vi phạm của các bị cáo không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng mức hình phạt cải tạo cách ly đối với các bị cáo và chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A được quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T được hưởng mức án cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T bị tạm giữ 02 ngày, từ ngày 08/12/2021 đến ngày 10/12/2021, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tại không giam giữ được chuyển đổi thành bằng 06 ngày cải tạo không giam giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt.
- Về việc khấu trừ thu nhập:
Bị cáo Nguyễn Văn T phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng
8
xét xử xét, do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
- Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A, Nguyễn Văn T còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền.Tuy nhiên, xét các bị cáo không có thu nhập, công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 322 và khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen có số IMEI: 355347089177469; 01 máy tính Casio của Nguyễn Thị Hồng L là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 01 sổ ghi chép màu đen kích thước khoảng 10x18cm.
Đối với hành vi của Hoàng Thị Phương Th và Vũ Thị L1 đã bị Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử ngày 15/11/2022, về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Về các lần bán, nhận chuyển bảng số đề của L1, L trước đó, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, có căn cứ xử lý sau.
Đối với những người có hành vi mua “số đề” và các đối tượng sử dụng zalo “Huyền”, “Ran”, “Hoa cúc”, “Nhóm đề” nhận, chuyển bảng đề của Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A hiện chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, có căn cứ xử lý sau.
Ngày 01/12/2021, Phạm Thị Mai Anh không biết việc Phạm Thị Ngọc A nhận chuyển bảng số đề tại nhà của mình nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
9
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng L 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc A 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Trừ cho bị cáo 02 ngày tạm giữ từ ngày 08/12/2021 đến ngày 10/12/2021 được chuyển đổi bằng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 14 (mười bốn) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày Cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Văn T tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đông Hải 1, quận Hải An, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Đông Hải 1, quận Hải An, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục, tạo điều kiện tìm việc làm cho bị cáo theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại các điều 99, 100, 101 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về việc khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ cho bị cáo Nguyễn Văn T. Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A, Nguyễn Văn T theo quy định tại khoản 3 Điều 322; khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen có số IMEI: 355347089177469; 01 máy tính Casio của Nguyễn Thị Hồng L là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 01 sổ ghi chép màu đen kích thước khoảng 10x18cm (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
10
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo đều phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Phạm Thị Ngọc A, Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - TAND TP Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. 11 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ 12 13 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |