- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Bình - Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Hủy một phần Bản án sơ thẩm số: 89/2022/HS-ST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Hải Dương về tội Tổ chức đánh bạc và tội Đánh bạc đối với bị cáo Nguyễn Trọng B. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm lại đối với bị cáo N…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 136/2022/HS-PT Ngày 30/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết
Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Hiệu và ông Bùi Đăng Huy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 158/2022/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Trọng B và các đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 89/2022/HS-ST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Trọng B, sinh năm 1989 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư V, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H; vợ là Trương Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương từ ngày 17/8/2021 đến nay. Có mặt.
2. Nguyễn Văn K, sinh năm 1989 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư T, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T; vợ là Diệp Thị Tr và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
3. Nguyễn Anh Th, sinh năm 1987 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Số nhà X, đường T, khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh Đ (đã chết) và bà Hoàng Thị B; vợ là Vũ Thị Tr1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Tr3, sinh năm 1993, địa chỉ: KDC C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
Bản án không bị kháng nghị, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trọng B tự khai nhận đầu tháng 6 năm 2021, B mua của Trần Văn L6, sinh năm 1987, trú tại số 17 đường L, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương 01 tài khoản cá độ bóng đá có ký hiệu “DTE05KK07” (theo phân cấp khi cá độ thì đây là tài khoản có cấp độ Agent tức là cấp đại lý) kèm theo mật khẩu để truy cập vào đường link trên mạng internet có địa chỉ http://www.bong88.com, tài khoản này có hạn mức 30.000 điểm, B và L6 thỏa thuận 7.000 đồng/01 điểm. Sau đó, từ ngày 11/6/2021 đến ngày 19/6/2021, Nguyễn Trọng B đã chia tài khoản “DTE05KK07” thành 04 tài khoản cấp độ Member (theo phân cấp khi cá độ thì đây là tài khoản cấp của người chơi dùng để cá độ) để những người chơi tham gia cá độ bóng đá với B. Cụ thể B bán cho 04 người gồm: Nguyễn Anh Th tài khoản “DTE05KK0701W”, hạn mức 1.000 điểm, thỏa thuận 10.000 đồng/01 điểm; Nguyễn Văn Tr3 tài khoản “DTE05KK0701F”, hạn mức là 200 điểm, thỏa thuận 20.000 đồng/01 điểm; Nguyễn Văn K tài khoản “DTE05KK0701N”, hạn mức 100 điểm, thỏa thuận 100.000 đồng/01 điểm. Ngoài ra, B tự khai bán cho Nguyễn Văn M, sinh năm 1988, trú tại khu dân cư Đ, phường V, thành phố C tài khoản “DTE05KK0701Y”, hạn mức 100 điểm, thỏa thuận 70.000 đồng/01 điểm.
Cách thức cá độ bóng đá qua mạng internet được quy định như sau: Người chơi dùng thiết bị điện tử như máy vi tính, điện thoại di động…truy cập vào mạng internet có địa chỉ http://www.bong88.com sau đó đăng nhập vào tài khoản và mật khẩu của mình. Trong mỗi tài khoản người chơi có hạn mức (gọi là điểm) nhất định; khi đăng nhập thì thông tin do “nhà cái” đưa ra các tỷ lệ cá độ (gọi là kèo) để người chơi lựa chọn “kèo” và hình thức cá độ rồi đặt điểm cá cược. Nếu người chơi đặt cược thắng thì điểm thắng sẽ được cộng trực tiếp vào tài khoản, nếu thua sẽ bị trừ số điểm tương ứng. Chủ tài khoản cấp cao hơn sẽ đăng nhập vào tài khoản của mình để quản lý, theo dõi các tài khoản cấp thấp hơn. Thông tin thắng thua và các lần cá cược đều được hệ thống lưu giữ tại lịch sử của tài khoản. Trong khoảng 11 giờ đến 12 giờ hàng ngày thì điểm trong các tài khoản của người chơi sẽ trở về với hạn mức ban đầu. Hình thức thanh toán tiền thì B thỏa thuận với những người chơi sẽ thanh toán tiền thắng thua vào ngày thứ 2 đầu các tuần. Từ những tài khoản trên B tổ chức cho Th, K, Tr3 và Nguyễn Văn M đánh bạc bằng hình thức cá cược 22 trận bóng đá và chơi 02 trò chơi minigame trong tài khoản. Tổng số tiền Th, K, Tr3, M sử dụng để đánh bạc là 597.539.800 đồng. Đến ngày 16/9/2021 thì bị Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh Hải Dương kiểm tra, phát hiện như sau:
Từ ngày 14/6/2021 đến ngày 15/6/2021, Nguyễn Anh Th đã tham gia cá cược tổng là 20 kèo ở 07 trận bóng đá và tham gia 02 trò chơi minigame. Khi cá cược có kèo thắng, kèo thua, gồm: Trận Paraguay với Bolivia: cá cược 04 lượt, số điểm tương ứng với số tiền quy đổi ra thì Th sử dụng số tiền 4.630.000 đồng để đánh bạc. Trận Brazil với Spain: cược 01 lượt, số tiền tương ứng với số tiền quy đổi ra là 660.000 đồng. Trận Argentine với Chile: cược 03 lượt, số tiền tương ứng với số điểm để tham gia đánh bạc được quy đổi ra là 4.041.200 đồng. Trận Spain với Sweden: cược 03 lượt, số tiền tương ứng với số điểm để tham gia đánh bạc được quy đổi ra là 4.000.000 đồng. Trận Inter Milan với Juventus: cược 01 lần nhưng trận này không chơi được và hoàn tiền lại, hoàn điểm lại. Trận Stabaek với Tromso: cá cược 02 lượt, số tiền tương ứng với số điểm để tham gia đánh bạc được quy đổi ra là 1.286.800 đồng. Trận Poland với Slovakia: cược 06 lượt, số tiền tương ứng với số điểm để tham gia đánh bạc được quy đổi ra là 19.581.800 đồng. Ngoài ra, Th còn 02 lần chơi mini game là trò GĐG Baccarat số tiền đánh bạc tương ứng với số điểm được quy đổi ra là 184.240.000 đồng và trò xóc đĩa cổng game SABA số tiền đánh bạc tương ứng với số điểm được quy đổi ra là 253.460.000 đồng. Th khai nhận khi chơi hai trò chơi mini game này thì Th có đặt nhiều kèo cược khác nhau. Khi thoát trò chơi này, hệ thống không lưu số kèo và số tiền cược cho từng kèo. Th không cược kèo nào trên 5.000.000 đồng. Tổng số tiền của 06 trận bóng đá (không đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự) và 02 trò chơi minigame này là 452.318.000 đồng. Danh sách thắng thua trên hệ thống thể hiện tài khoản của Th là - (âm) 3.364,66 có nghĩa là số điểm Th đánh bạc thua là 3.364,66 điểm.
Từ ngày 13/6/2021 đến ngày 18/6/2021, Nguyễn Văn K tham gia cá cược ở 11 trận bóng, có kèo thắng, kèo thua. Trong đó cả 11 trận bóng có số tiền cá cược từ 05 triệu đồng trở lên, cụ thể: Trận Croatia với Czech Republic, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 5.000.000 đồng. Trận Sweden với Slovakia, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 9.500.000 đồng. Trận Denmark với Belgium, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 9.850.000 đồng. Trận Ukraine với North, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 7.450.000 đồng. Trận Italia với Switzerland, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 9.700.000 đồng. Trận Russia No.of Cornes với Finland, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 5.000.000 đồng. Trận Poland với Slovakia, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 10.000.000 đồng. Trận Scotlant với CzechRepubic, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 10.000.000 đồng. Trận Austria với North, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 10.000.000 đồng. Trận Netherland với Ukraina, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 5.000.000 đồng. Trận England với Croatia, K cá cược 01 kèo, số tiền sử dụng đánh bạc là 5.000.000 đồng. Tổng số tiền K sử dụng để đánh bạc 11 trận bóng trên là 86.500.000 đồng. Tại thời điểm kiểm tra, K đang thắng số điểm là 190 điểm, tương đương với 19.000.000 đồng, K và B chưa thanh toán cho nhau khoản tiền nào.
Từ ngày 11/6/2021 đến ngày 18/6/2021, Nguyễn Văn Tr3 tham gia 36 kèo cá cược ở 16 trận bóng, có kèo thắng, kèo thua. Trong đó không có trận bóng nào số tiền sử dụng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên. Tổng số tiền Tr3 sử dụng để đánh bạc ở 16 trận bóng này là 10.440.000 đồng. Tr3 chưa thanh toán cho B khoản tiền nào.
Theo lời khai nhận của B và bản kê danh sách các kèo cá cược các trận bóng in từ tài khoản cá độ của B thể hiện: Từ ngày 16/6/2021 đến ngày 18/6/2021, tài khoản của M được tự động nạp điểm hai lần, mỗi lần 100 điểm, tổng là 200 điểm tương ứng với 14.000.000 đồng. Nguyễn Văn M tham gia 8 kèo cá cược ở 05 trận bóng, có kèo thắng kèo thua. Trong đó có 01 trận bóng số tiền cá cược là 21 triệu đồng, còn lại 04 trận bóng có số tiền cá cược dưới 05 triệu đồng. Tổng số tiền của M sử dụng để đánh bạc cả 05 trận là 28.700.000 đồng. M đang thắng số điểm 75,5 điểm tương ứng là số tiền 5.285.000 đồng. Giữa M và B chưa thanh toán với nhau.
Số tiền thu lợi bất chính của B từ hành vi tổ chức đánh bạc gồm:
- Thu lợi số tiền chênh lệch từ việc bán điểm cho Th trong 01 trận bóng đá đủ lượng khởi tố hình sự về tội đánh bạc: trận Poland với Slovakia, Th sử dụng 1.685 điểm x 10.000 đồng = 16.850.000 đồng để cá cược, trừ đi số tiền B mua điểm của L6 là 1.685 điểm x 7.000 đồng = 11.795.000 đồng. Như vậy, B thu lợi 5.055.000 đồng.
- Thu lợi số tiền chênh lệch từ việc bán điểm cho Th để Th tham gia cá cược 06 trận bóng đá (không đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự) và 02 trò chơi minigame GĐG Baccarat và trò xóc đĩa cổng game SABA với số điểm 3.364,66 tương đương với 33.646.600 đồng. Trừ đi số tiền B mua điểm của L6 là 3.364,66 x 7.000 đồng = 23.552.620 đồng. Như vậy, B thu lợi 10.093.980 đồng.
- Thu lợi số tiền chênh lệch từ việc bán điểm cho K trong 11 trận bóng đủ định lượng khởi tố hình sự về tội đánh bạc: K sử dụng tổng số 600 điểm x 100.000 đồng = 60.000.000 đồng, trừ đi số tiền B mua điểm của L6 là 600 điểm x 7.000 đồng = 4.200.000 đồng. Như vậy, B thu lợi là 55.800.000 đồng.
- Thu lợi số tiền chênh lệch từ việc bán điểm cho M trong 01 trận cá cược bóng đá đủ định lượng khởi tố về tội đánh bạc: M sử dụng 150 điểm x 70.000 đồng = 10.500.000 đồng, trừ đi số tiền B mua điểm của L6 là 150 điểm x 7.000 = 1.050.000 đồng. Như vậy, B thu lợi là 9.450.000 đồng.
Tổng số tiền B thu lợi từ hành vi tổ chức đánh bạc là 80.398.980 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 89/2022/HS-ST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Hải Dương đã quyết định:
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 322; điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng B 30 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 36 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng cộng là 66 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 17/8/2021.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 36 tháng tù về tội Đánh bạc, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Th 36 tháng tù về tội Đánh bạc, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Trọng B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Anh Th đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm về tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc” đối với bị cáo Nguyễn Trọng B để điều tra lại.
- Đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Anh Th: Cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo K, Th về tội Đánh bạc và đã áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo K được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Th được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo K, Th, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt như tại bản án sơ thẩm nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.
- Về án phí: Các bị cáo B, K, Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Trọng B, Nguyễn Văn K, Nguyễn Anh Th trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cấp sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản vụ việc, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Đối với hành vi của Nguyễn Trọng B: Đầu tháng 6/2021, B mua của Trần Văn L6 01 tài khoản cá độ bóng đá cấp độ Agent có ký hiệu “DTE05KK07” (tức là cấp đại lý) kèm theo mật khẩu để truy cập vào đường link trên mạng internet có địa chỉ http://www.bong88.com, tài khoản này có hạn mức 30.000 điểm, B và L6 thỏa thuận 7.000 đồng/01 điểm. Từ ngày 11/6/2021 đến ngày 19/6/2021, B sử dụng tài khoản cá độ bóng đá Agent “DTE05KK07”, chia thành 04 tài khoản Member, sau đó bán cho Nguyễn Anh Th tài khoản “DTE05KK0701W”, hạn mức 1.000 điểm, thỏa thuận 10.000 đồng/01 điểm; bán cho Nguyễn Văn Tr3 tài khoản “DTE05KK0701F”, hạn mức là 200 điểm, thỏa thuận 20.000 đồng/01 điểm; bán cho Nguyễn Văn K tài khoản “DTE05KK0701N”, hạn mức 100 điểm, thỏa thuận 100.000 đồng/01 điểm và bán cho Nguyễn Văn M tài khoản “DTE05KK0701Y”, hạn mức 100 điểm, thỏa thuận 70.000 đồng/01 điểm để những người này tham gia cá cược bóng đá được thua bằng tiền trên website: http://www.bong88.com. Sau khi có các tài khoản Member trên, Nguyễn Văn K, Nguyễn Anh Th, Nguyễn Văn Tr3 và Nguyễn Văn M đã tham gia cá cược ăn tiền 22 trận bóng đá và chơi 02 trò chơi minigame. B và các đối tượng thỏa thuận sẽ thanh toán tiền thua và thắng bạc vào ngày thứ 2 hằng tuần. Tổng số tiền các đối tượng tham gia đánh bạc là 597.539.800 đồng. B thu lời bất chính 80.398.980 đồng. Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, của các đối tượng liên quan, dữ liệu điện tử thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng chưa có đủ căn cứ xác định việc B thanh toán tiền với các đối tượng có tài khoản Member có phải là việc thanh toán tiền thắng và thua bạc hay không. Vấn đề này cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do vậy, Hội đồng xét xử cần hủy bản án sơ thẩm về hai tội "Đánh bạc" và "Tổ chức đánh bạc" đối với Nguyễn Trọng B, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn K: Từ ngày 13/6/2021 đến ngày 18/6/2021, Nguyễn Văn K đã sử dụng tài khoản Member “DTE05KK0701N” hạn mức 100 điểm mua của B để tham gia cá cược 11 trận bóng trên mạng internet, với tổng số tiền đánh bạc là 86.500.000 đồng. Tất cả 11 trận bóng đều có số tiền cá cược từ 05 triệu đồng trở lên, không có trận bóng nào có số tiền cá cược trên 50 triệu đồng. Hành vi của bị cáo K đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Trong 11 trận bóng đá K tham gia cá cược, không có trận bóng nào có số tiền cá cược trên 50 triệu đồng. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã cộng tổng số tiền K tham gia cá cược 11 trận bóng đá (tổng số tiền là 86.500.000 đồng) để buộc bị cáo K phải chịu tình tiết định khung “Tiền hoặc hiện vật dùng vào việc đánh bạc trị giá 50 triệu đồng trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là chưa chính xác, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết định khung là điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo K.
Đối với hành vi của Nguyễn Anh Th: Từ ngày 14/6/2021 đến ngày 15/6/2021, Th đã sử dụng tài khoản Member “DTE05KK0701W” hạn mức 1.000 điểm mua của B để tham gia cá cược tổng là 20 kèo ở 07 trận bóng đá và tham gia 02 trò chơi minigame trên mạng internet với tổng số tiền là 471.899.800 đồng. Trong đó có 01 trận bóng đá cá cược với số tiền là 19.581.800 đồng (đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự với số tiền đánh bạc từ 05 triệu đồng trở lên). Như vậy, hành vi của bị cáo Th đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Anh Th về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tội danh các bị cáo K, Th không có kháng cáo và Viện kiểm sát không có kháng nghị.
Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Anh Th xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo thì thấy:
Các bị cáo K, Th phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi đánh bạc. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo và áp dụng cho các bị cáo K, Th được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định. Bị cáo K phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo K đã bị giao nộp được tài liệu chứng minh bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan Công an trong việc phát hiện tội phạm, hiện đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can; giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền án phí, tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm; đã giao nộp tài liệu thể hiện bị cáo tích cực tham gia ủng hộ quỹ phòng chống Covid-19 tại địa phương nên bị cáo K được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Th đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm, có xác nhận việc bị cáo tham gia phong trào phòng chống Covid-19 tại địa phương và có thành tích trong phong trào thể dục thể thao của địa phương (đạt huy chương đồng giải Cầu lông tại đại hội thể dục thể thao tỉnh Hải Dương năm 2022) nên bị cáo Th được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét các bị cáo K, Th đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo K, Th, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt của các bị cáo như tại bản án sơ thẩm nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời thể hiện sự nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.
Do hủy một phần bản án sơ thẩm về tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc” đối với bị cáo Nguyễn Trọng B nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo B.
Về án phí: Do hủy một phần bản án sơ thẩm đối với bị cáo B; kháng cáo của các bị cáo K, Th được chấp nhận một phần nên các bị cáo B, K, Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Đối với phần nội dung của bản án sơ thẩm về biện pháp tư pháp không có kháng cáo của các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Việc cấp sơ thẩm tuyên truy thu buộc các bị cáo K, Th và người liên quan anh Nguyễn Văn Tr3 phải nộp số tiền đã sử dụng vào việc đánh bạc sung nộp công quỹ Nhà nước. Xét việc các bị cáo, người liên quan đánh bạc trên mạng, Cơ quan cảnh sát điều tra không thu được số tiền dùng để đánh bạc này, hiện không có cơ sở chứng minh các bị cáo K, B và anh Tr3 được hưởng lợi bất chính từ số tiền nêu trên nên cần sửa án sơ thẩm, không buộc truy thu của bị cáo K số tiền 86.500.000 đồng sung quỹ nhà nước, bị cáo Th không phải bị truy thu số tiền 451.889.800 đồng sung công quỹ nhà nước, anh Nguyễn Văn Tr3 không bị truy thu số tiền 10.440.000 đồng sung công quỹ nhà nước.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Văn K đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung, tiền truy thu, tiền án phí là 101.700.000 (Một trăm linh một triệu bảy trăm nghìn) đồng theo quyết định của án bản sơ thẩm, tại biên lai thu tiền số AA/2020/0001274 ngày 13/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Do bị cáo chỉ phải nộp tiền án phí sơ thẩm, tiền phạt bổ sung là 15.200.00 đồng, đối trừ số tiền bị cáo đã nộp nên bị cáo Nguyễn Văn K được hoàn trả lại số tiền là 86.500.000 (Tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đồng theo quy định.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Trọng B đã tự nguyện nộp tiền án phí và tiền phạt bổ sung là 15.200.000 (Mười lăm triệu hai trăm nghìn) đồng theo quyết định của án bản sơ thẩm, tại Biên lai thu tiền số AA/2020/0001277 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Anh Th đã tự nguyện nộp tiền án phí và tiền phạt bổ sung là 15.200.000 (Mười lăm triệu hai trăm nghìn) đồng theo quyết định của án bản sơ thẩm, tại Biên lai thu tiền số AA/2020/0001255 ngày 28/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Bị cáo đã thi hành xong.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng, quyết định về án phí không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357, điểm đ khoản 2 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Hủy một phần Bản án sơ thẩm số: 89/2022/HS-ST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Hải Dương về tội Tổ chức đánh bạc và tội Đánh bạc đối với bị cáo Nguyễn Trọng B. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm lại đối với bị cáo Nguyễn Trọng B theo thủ tục chung.
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Anh Th; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 89/2022/HS-ST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với các bị cáo K, Th.
3. Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm t, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Th 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; giao bị cáo Nguyễn Anh Th cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Trọng B, Nguyễn Văn K, Nguyễn Anh Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Văn K không bị truy thu số tiền 86.500.000 đồng sung quỹ nhà nước, bị cáo Nguyễn Anh Th không bị truy thu số tiền 451.889.800 đồng sung công quỹ nhà nước, anh Nguyễn Văn Tr3 không bị truy thu số tiền 10.440.000 đồng sung công quỹ nhà nước.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Trọng B đã tự nguyện nộp tiền án phí và tiền phạt bổ sung là 15.200.000 (Mười lăm triệu hai trăm nghìn) đồng theo quyết định bản án sơ thẩm, tại Biên lai thu tiền số AA/2020/0001277 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Anh Th đã tự nguyện nộp tiền án phí và tiền phạt bổ sung là 15.200.000 (Mười lăm triệu hai trăm nghìn) đồng theo quyết định bản án sơ thẩm, tại Biên lai thu tiền số AA/2020/0001255 ngày 28/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Văn K đã tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung, tiền truy thu, tiền án phí theo bản án sơ thẩm là 101.700.000 (Một trăm linh một triệu bảy trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0001274 ngày 13/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hoàn trả bị cáo K lại số tiền là 86.500.000 (Tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đồng.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về hình phạt bổ sung; về xử lý vật chứng; quyết định về án phí không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - TAND thành phố C; - VKSND thành phố C; - Cơ quan CSĐT, HSNV, THAHS - Công an thành phố C; - Chi cục THADS thành phố C; - Bị cáo; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Tuyết |