vanban.org

Bản án 135/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan h hôn nhân: Chị Lang Thị L được ly hôn anh Trương Văn H.

Về con chung: Giao 03 ngư i con chung là Trương Thị Thúy H1, sinh ngày 13/12/2012 và Trương Thị Thúy H2, Trương Thị Thanh H3 cùng sinh ngày 24/6/2014 cho chị Lang Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, tạm hoãn vi c cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn H. Vi c giao n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Lang Thị Lý và anh Trương Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về quan h hôn nhân: Chị Lang Thị L được ly hôn anh Trương Văn H.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2022/HNGĐ-ST
Ngày 28/9/2022
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Đông

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Thuận.

2. Bà Hoàng Thị Tuấn Anh.

- Thư ký phiên toà: Bà Kim Thị Mai - Thư T a án nhân dân huy n Qu Hợp, tỉnh Ngh An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở T a án nhân dân huy n Qu Hợp, tỉnh Ngh An, xét xử sơ thẩm công hai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ l số: 50/2022/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 về vi c “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lang Thị L, sinh năm 1993. Trú tại: Xóm V, xã NT, huy n N, tỉnh Ngh An. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Trƣơng Văn H, sinh năm 1990. Trú tại: Xóm M, xã H, huy n Q, tỉnh Ngh An. (Vắng mặt lần thứ hai hông có l do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn hởi i n ngày 04/5/2022 và qua l i hai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên t a, nguyên đơn là chị Lang Thị L trình bày:

Chị Lang Thị L và anh Trương Văn H đăng

ết hôn với nhau vào ngày 11/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã NT1, huy n N, tỉnh Ngh An (nay sáp nhập xã gọi là xã NT). Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một th i gian thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H ham chơi, hông tu chí làm ăn và chăm lo cho gia đình, ngoài ra còn có những mối quan h bất chính với nhiều ngư i phụ nữ hác, dẫn đến vợ chồng thư ng xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc, qua th i gian ly thân chị L thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị L giữ nguyên yêu cầu được giải quyết ly hôn đối với anh Trương Văn H.

Về con chung: Trong th i gian chung sống, giữa chị L và anh Trương Văn H có 03 ngư i con chung, gồm ngư i con đầu Trương Thị Thúy H1, sinh ngày 13/12/2012 và 02 ngư i con sinh đôi Trương Thị Thúy H2, Trương Thị Thanh H3 cùng sinh ngày 24/6/2014. Giải quyết ly hôn chị L đề nghị giao ngư i con đầu cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao 02 ngư i con c n lại cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Tuy nhiên tại phiên t a chị Lang Thị L có iến thay đổi, nếu anh H thư ng đi làm xa nhà hông đảm bảo vi c chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì chị L đề nghị giao cả 03 ngư i con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và hông yêu cầu anh Trương Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Lang Thị L hông yêu cầu Tòa án giải quyết đối với phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng.

- Đối với bị đơn anh Trương Văn H: Sau hi thụ l vụ án T a án đã tiến hành tống đạt, niêm yết Thông báo thụ l vụ án, bản sao đơn hởi i n và tài li u chứng cứ èm theo đơn hởi i n theo quy định, do anh H vắng mặt nên ngư i nhà anh H đã nhận hộ giấy t và cam ết thông báo cho anh H được biết, tuy nhiên anh Trương Văn H không có văn bản hay iến phản hồi. Quá trình giải quyết vụ vi c Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết Thông báo phiên họp và h a giải, cũng như giấy tri u tập theo quy định, ngư i thân anh H nhận thay và cam ết sẽ thông báo, giao tận tay cho anh H biết để tham gia làm vi c đúng th i gian, nhưng anh H vẫn hông có mặt để tham gia giải quyết vụ án theo yêu cầu.

Tiến hành xác minh tại địa phương và lấy l i hai của bố đẻ anh Trương Văn H là ông Trương Văn D, ông D xác nhận sau hi nhận được Thông báo của T a án gia đình đã liên lạc thông báo cho anh H biết vi c chị L xin giải quyết ly hôn nhưng anh H hông về giải quyết, lý do anh H nói với gia đình là do hông thu xếp được công vi c, ngoài ra anh H còn có iến hông đồng ly hôn nên vi c chị L viết đơn đề nghị T a án giải quyết ly hôn anh H sẽ hông về để tham gia giải quyết, bản thân anh H cũng hông cung cấp địa chỉ nơi mình hi n đang tạm trú, sinh sống và làm vi c cho gia đình được biết, nên gia đình hông cung cấp được địa chỉ của anh H cho Tòa án để liên h làm vi c, gia đình vẫn giữ liên lạc thư ng xuyên với anh H bằng đi n thoại, anh H vẫn thư ng xuyên về thăm gia đình, theo thông tin gia đình tìm hiểu chỉ biết hi n nay anh H đang làm vi c tại hu công nghi p tại các tỉnh phía bắc, hông rõ địa chỉ cụ thể ở đâu.

Về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng ông D hông được rõ, sau hi xảy ra mâu thuẫn chị L bỏ về nhà bố, mẹ đẻ sống th i gian đã lâu, giữa anh H và chị L có với nhau 03 ngư i con chung gồm ngư i con đầu là Trương Thị Thúy H1, sinh ngày 13/12/2012 và 02 ngư i con sinh đôi Trương Thị Thúy H2, Trương Thị Thanh H3 cùng sinh ngày 24/6/2014. Từ hi hai vợ chồng đi làm xa và xảy ra mâu thuẫn cho đến nay các con chung của anh H, chị L vẫn ở cùng vợ chồng ông D và do ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu chị L giữ nguyên yêu cầu đề nghị giải quyết ly hôn với anh Trương Văn H, theo iến của gia đình hông đồng ý giao các con chung cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, bởi vì các cháu từ nhỏ đã được ông, bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông bà hông muốn xáo trộn nơi sinh sống, học tập của các cháu và nguy n vọng của các cháu cũng muốn được ở cùng với ông, bà và anh H.

Đối với phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng anh H, chị L do hai vợ chồng tự giải quyết, ông D hông có iến gì.

- iến của đại di n Vi n iểm sát nhân dân huy n Qu Hợp tại phiên t a:

Qua iểm sát giải quyết vụ án từ hi thụ l vụ án cho đến trước hi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên t a thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư , nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, quá trình hỏi và tranh luận tại phiên t a đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có mặt tham gia giải quyết vụ vi c theo giấy tri u tập, tuân thủ đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn cố tình giấu địa chỉ, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án không có lý do, không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định, đã được tri u tập đến phiên t a xét xử hợp l nhưng vắng mặt do đó cần xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; 35; 39; hoản 2 Điều 227 và hoản 3 Điều 228; hoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a hoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí T a án, để xét xử.

Về quan h hôn nhân: Cần chấp nhận đơn hởi i n của nguyên đơn, cho chị Lang Thị L được ly hôn với anh Trương Văn H.

Đối với con chung: Tuy các con chung của chị L và anh H đều có nguy n vọng được ở với ông, bà nội và anh H, nhưng quá trình giải quyết anh Trương Văn H được thông báo tham gia giải quyết vụ án nhưng cố tình vắng mặt và không thông báo địa chỉ liên lạc để làm vi c, nên không rõ nơi tạm trú, làm vi c và sinh sống, theo quy định của pháp luật con chung chỉ được xem xét giao cho bố hoặc mẹ khi có đủ hả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, để đảm bảo quyền lợi cho các con, đề nghị xem xét giao cả 03 ngư i con Trương Thị Thúy H1, sinh ngày 13/12/2012, Trương Thị Thúy H2, Trương Thị Thanh H3 cùng sinh ngày 24/6/2014 cho nguyên đơn có mặt là chị Lang Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm hoãn vi c cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn H là phù hợp. Vi c giao nuôi con thực hi n ể từ tháng 10 năm 2022 trở đi cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, bên hông trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp con, hông ai được cản trở.

Nguyên đơn không yêu cầu T a án giải quyết về phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Buộc nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn có mặt hông có iến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lang Thị L có đơn yêu cầu giải quyết xin ly hôn đối với anh Trương Văn H, đề nghị giao ngư i con đầu cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao 02 ngư i con c n lại cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên hông có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho nhau và chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung của vợ chồng. Tại phiên t a chị L thay đổi iến về phần con chung, đề nghị giao cả 03 ngư i con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và hông yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung. Theo quy định tại hoản 1 Điều 51 luật Hôn nhân và gia đình và hoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, quan h pháp luật trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Bị đơn anh Trương Văn H có nơi đăng hộ hẩu thư ng trú tại xóm M, xã H, huy n Q, tỉnh Ngh An, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nhân dân huy n Qu Hợp, tỉnh Ngh An theo quy định tại điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn đã được tống đạt thông báo, bản sao đơn hởi i n và các tài li u, chứng cứ về vi c nguyên đơn có đơn hởi i n xin ly hôn tại T a án theo quy định nhưng hông có iến phản hồi, cố tình vắng mặt tại các phiên họp, h a giải và làm vi c tại Tòa án được tri u tập, quá trình giải quyết hông cung cấp địa chỉ cho T a án liên h để giải quyết vụ vi c, do đó vụ án hông tiến hành h a giải được theo Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã cung cấp đúng địa chỉ của bị đơn, qua xác minh, làm vi c bị đơn cố tình giấu địa chỉ, hông tham gia giải quyết vụ án theo quy định, căn cứ vào hướng dẫn của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán T a án nhân dân tối cao, thì T a án vẫn thụ l , giải quyết vụ án theo thủ tục chung, do đó cần áp dụng Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về quan h hôn nhân: Chị Lang Thị L và anh Trương Văn H đăng

ết hôn vào ngày 11 tháng 3 năm 2011 tại U ban nhân dân xã NT1, huy n N, tỉnh Ngh An (nay sáp nhập xã gọi là xã NT). Hôn nhân giữa hai bên hoàn toàn tự nguy n, đảm bảo về điều ki n kết hôn và đăng đúng thủ tục quy định của pháp luật, nên quan h hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Sau hi ết hôn, chung sống một th i gian giữa vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, theo iến chị L trình bày nguyên nhân do anh H hông tu chí làm ăn và quan tâm, chăm lo cho gia đình, ngoài ra anh H c n có những mối quan h hông trong sáng với những ngư i phụ nữ hác dẫn đến vợ chồng thư ng xảy ra cãi vã, mâu thuẫn, cuộc sống không có hạnh phúc và tương lai lâu dài. Qua xem xét tài li u, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ, cũng như l i hai của nguyên đơn, l i hai ngư i thân anh H và xác minh tại địa phương cho thấy, giữa vợ chồng có mâu thuẫn xảy ra, sau đó chị L trở về nhà bố, mẹ đẻ sống ly thân với anh H từ năm 2020 đến nay, trong th i gian ly thân vợ chồng không có sự quan tâm nhau, hông có nỗ lực hàn gắn tình cảm vợ chồng, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên iến iên quyết xin được giải quyết ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đ i sống chung hông thể éo dài, mục đích của hôn nhân hông đạt được, do đó cần chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Lang Thị L đối với anh Trương Văn H.

Về con chung: Qua xem xét tài li u, chứng cứ do đương sự cung cấp, ý iến của các đương sự, xác minh về hoàn cảnh, môi trư ng sống và hả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, xét thấy quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trương Văn H thư ng vắng mặt tại địa phương, các con chung hi n do bố, mẹ đẻ của anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Theo quy định của pháp luật, vi c trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung sau hi ly hôn gắn với quyền, nghĩa vụ của bố hoặc mẹ hi đủ điều i n, hả năng chăm sóc, nuôi con, bản thân anh H thư ng đi làm xa nhà, quá trình giải quyết vụ án hông có mặt tham gia giải quyết vụ án đưa ra iến, đề nghị của mình về vi c giao nuôi con, nếu xem xét giao con chung cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ hông đảm bảo được sự chăm sóc, gần gũi cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của các con chung sau này. Tuy cả 03 con chung đều có iến muốn được ở cùng anh H và ông bà nội, nhưng xét thấy nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con gắn liền với nghĩa vụ của bố, mẹ nhưng anh H hông có mặt thư ng xuyên tại địa phương, do đó cần xem xét giao các con chung cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, tạm hoãn vi c cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn H là hợp tình, hợp l . Vi c giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần thực hi n ể từ tháng 10 năm 2022 trở đi, cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Ngoài ra trong th i gian nuôi con chị Lang Thị L có quyền thỏa thuận hoặc hởi i n buộc anh Trương Văn H thực hi n nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hi có yêu cầu theo quy định.

Bên hông trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung hông ai được cản trở.

Trong th i gian giao nuôi con, nếu anh Trương Văn H xét thấy chị Lang Thị L hông đủ điều i n, hả năng để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, theo quy định tại hoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 84 luật Hôn nhân và Gia đình, anh Trương Văn H có quyền hởi i n yêu cầu thay đổi lại ngư i trực tiếp nuôi con theo quy định.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lang Thị L hông yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử hông xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào hoản 1 Điều 51; các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; hoản 1 Điều 28; các Điều 35; 39; 271; 273; điểm b hoản 2 Điều 227; hoản 3 Điều 228; hoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a hoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và l phí T a án, xử:

1. Về quan h hôn nhân: Chị Lang Thị L được ly hôn anh Trương Văn H.

2. Về con chung: Giao 03 ngư i con chung là Trương Thị Thúy H1, sinh ngày 13/12/2012 và Trương Thị Thúy H2, Trương Thị Thanh H3 cùng sinh ngày 24/6/2014 cho chị Lang Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, tạm hoãn vi c cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn H. Vi c giao nuôi con được thực hi n ể từ tháng 10 năm 2022 trở đi cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Bên hông trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, hông ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lang Thị L chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được hấu trừ trong số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0006848 ngày 13/5/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huy n Qu Hợp, tỉnh Ngh An.

Án xử công hai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ