- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T và đồng phạm "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T, Ngô Văn T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2021/HS-PT Ngày: 18 - 11- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Bỉnh
- Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Ông Dư Thành Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 179/2021/TLPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Đinh Văn T và đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện ĐR.
Các bị cáo kháng cáo:
1. Đinh Văn T, sinh năm 1987 tại Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 1, xã RM, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Nhân viên Điện lực ĐR; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T1, sinh năm 1963 và bà Bạch Thị X, sinh năm 1964; gia đình có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1992, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ: Võ Thị Hồng D, sinh năm 1991 (đã ly hôn); con: 01 con, sinh năm 2013; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 26/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện LH, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 20.000.000 đồng về Tội đánh bạc, chấp hành xong ngày 09/6/2021. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Ngô Văn T2; sinh năm 1988 tại Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT: Xã TĐ, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh; nơi ở: Thôn 3, xã LS, huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Ư, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; gia đình có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1992; vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; con: 04 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/5/2021, được thay thế biện pháp ngăn chặn Đặt tiền để bảo đảm ngày 03/6/2021. Có mặt.
Trong vụ án này còn có các bị cáo khác không kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 14/3/2021, Trần Bá H, Ngô Văn T2 uống rượu tại nhà H ở thôn 1, xã RM, huyện ĐR. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đinh Văn T đến chơi. Tại đây, cả ba rủ nhau đánh bạc dưới hình thức Liêng tố, được thua bằng tiền mặt. H chuẩn bị 03 bộ bài Tú lơ khơ, loại 52 lá, thuốc lá, nước uống rồi ngồi tại phòng ngủ của nhà H để đánh bạc. Các bị cáo thống nhất mỗi người bỏ ra 2.000.000 đồng đậu chớn, đậu nước 50.000 đồng/ván, rồi tăng lên 100.000 đồng/ván. Đến khoảng 23 giờ 30 phút, H và T có đánh với nhau 01 ván bài mua, khi ngửa bài thì H ăn tiền rồi vơ tiền về hướng mình, khi vơ tiền thì trong đóng tiền có lộ ra 01 lá bài tú lơ khơ nên T nói H đánh láo, đánh bịp nên vơ hết tiền từ trước mặt H, bỏ tiền vào túi quần của mình. Sau đó, hai bên cự cãi, H đóng cửa lại và điện thoại báo Cơ quan Công an đến giải quyết, còn T2 bỏ về nhà tại thôn 3, xã LS, huyện ĐR. Tại nhà H, Cơ quan điều tra đã lập biên bản ghi nhận sự việc, thu giữ trong người Đinh Văn T: Số tiền 5.100.000 đồng (T khai nhận đây là tiền lấy từ vị trí ngồi đánh bạc của H); 2.000.000 đồng trong túi quần; 01 ví da màu nâu, bên trong có 1.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu đen, màn hình cảm ứng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen, bàn phím số. Thu giữ trong người Trần Bá H: Số tiền 450.000 đồng (H khai nhận trong đó có 150.000 đồng là tiền thu xâu do đã bỏ ra để mua bài, thuốc, nước trước đó); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bàn phím số. Thu giữ tại nhà Trần Bá H: 03 bộ bài Tú lơ khơ, loại 52 lá, bìa màu xanh; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, biển kiểm soát 99D1-374.80, màu đen; 01 tủ đông hiệu SANAKY, bên trong có một số cá thể nghi là động vật hoang dã, gồm: 01 cá thể nghi Voọc, 01 cá thể nghi Khỉ, 01 cá thể nghi Rắn hổ đá, 01 cá thể nghi Mèo rừng, 01 cá thể nghi Nhím, 01 cá thể nghi Chồn, 01 cá thể nghi Cheo cheo, 01 cá thể nghi Dúi. H khai nhận số động vật này mua của một số người H’Mông, không rõ lai lịch từ đầu tháng 3/2021, mục đích để sử dụng.
Ngày 15/3/2021, Ngô Văn T2 đến Cơ quan điều tra trình diện và khai nhận có tham gia đánh bạc cùng với T và H vào tối ngày 14/3/2021; đồng thời giao nộp số tiền 630.000 đồng còn lại trong số tiền đã sử dụng để đánh bạc.
Quá trình điều tra xác định: Trần Bá H có 2.300.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc; Đinh Văn T mang theo 5.000.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc; Ngô Văn T2 mang theo 2.000.000 đồng và sử dụng để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc là 6.000.000 đồng.
Ngày 22/3/2021 Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 20 đối với số động vật hoang dã thu giữ tại nhà Trần Bá H. Theo Kết luận giám định động vật số 242/STTNSV ngày 31/3/2021 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, xác định: Loài Voọc chà vá chân đen (02 cá thể) và Loài Rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ) và đồng thời có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ). Loài Mèo rừng, Loài Cầy vòi hương và Loài Cheo cheo có tên trong Nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ). Loài Nhím, Dúi là động vật hoang dã thông thường, không có tên trong các danh mục thuộc nghị định của Chính phủ.
Ngày 24/6/2021 Cơ quan điều tra ra Yêu cầu định giá tài sản số 213 đối với số động vật hoang dã thu giữ tại nhà Trần Bá H. Theo Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 02/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện ĐR: Tổng giá trị của 08 cá thể động vật hoang dã nêu trên là 4.582.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả điện thoại di động, ví và xe mô tô cho các bị cáo; Quyết định tiêu hủy 08 cá thể động vật hoang dã theo quy định. Đối với số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc còn lại là 5.880.000 đồng và tiền thu giữ trên người bị cáo H, T là 3.300.000 đồng; 03 bộ bài Tú lơ khơ và 01 tủ đông hiệu SANAKY, Viện kiểm sát đã ra quyết định chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐR.
Theo bản cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 10/8/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐR, tỉnh Lâm Đồng, thì các bị cáo Trần Bá H, Đinh Văn T, Ngô Văn T2 bị truy tố về Tội đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự đồng thời đối với Trần Bá H còn bị truy tố về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án số 34/2021/HS-ST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện ĐR đã xử;
Tuyên bố bị cáo Trần Bá H phạm tội “Đánh bạc” và tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”; các bị cáo Ngô Văn T2, Đinh Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm b, khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Bá H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” và 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội là 24 (hai mươi bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Văn T2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Được trừ 09 ngày đã tạm giam trước.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
* Ngày 06/9/2021 các bị cáo Đinh Văn T và Ngô Văn T2 kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa hôm nay,
Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo và giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến: đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo; biên bản thu giữ tang vật và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào chiều ngày 14/3/2021 các bị cáo Trần Bá H, Đinh Văn T, Ngô Văn T2 đã cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức Liêng tố, được thua bằng tiền mặt, tổng số tiền mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 6.000.000 đồng. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo nộp trong hạn luật định nên được xem xét.
Quá trình điều tra, các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T2 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo T có tiền án và chưa được xóa án tích về tội đánh bạc nên bị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần phải xử phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo cung cấp đơn trình bày hoàn cảnh gia đình có xác nhận của chính quyên địa phương, tuy nhiên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T 09 tháng tù; bị cáo T2 06 tháng tù là đã tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo. Vì vậy, không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm e khoản 2 Điều 23; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T, Ngô Văn T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xử:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Văn T2, Đinh Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đinh Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Văn T2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ vào thời gian bị tạm giam từ ngày 26/5/2021 đến ngày 03/6/2021.
2. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo Đinh Văn T và Ngô Văn T2 phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện ĐR (04); - VKSND huyện ĐR (01); - Cơ quan CSĐT CA huyện ĐR (01); - Cơ quan THAHS CA huyện ĐR (01); - Phòng PV 27 Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (02); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Bỉnh |