vanban.org

Bản án 134/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Lê Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tổng hợp hình phạt của cả 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/1…

Xử phạt Đỗ Thị Huỳnh L 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2024. Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) xe mô tô màu đỏ biển số 54L1-309, số khung PMKWCH4UM7K400501, số máy VKVIP52FMH-H400501, trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên nếu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 134 LÊ VĂN T VÀ ĐP (255) 19.6.2025 - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Lê Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tổng hợp hình phạt của cả 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/1…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2025/HS-ST
Ngày: 19/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tân

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Hưng

2. Bà Đặng Thu Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 105/2025/TLST-HS ngày 09/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2025/QĐXXST-HS ngày 30/5/2025 và Thông báo dời ngày số 105/2025/TB-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Lê Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/01/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: A34/4 Ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 0/12; Con ông Bùi Văn P và bà Lê Thị Út C. Bị cáo sống như vợ chồng với Đỗ Thị Huỳnh L (không đăng ký kết hôn), có 01 người con sinh năm 2020;

Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Ngày 08/11/2021, Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 03 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Bản án hình sự sơ thẩm số 146/HSST). Ngày 02/7/2024, chấp hành xong hình phạt tù.

Nhân thân:

- Ngày 13/6/2017, bị Công an xã B, huyện B bắt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 06/9/2017, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng (Quyết định số 502/QĐ-TA). Ngày 28/02/2019, chấp hành xong.

- Ngày 20/3/2012, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt 07 năm tù, về tội “Cướp tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự (Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2012/HSST). Ngày 31/8/2015, chấp hành xong bản án.Top of Form

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/11/2024. (bị cáo có mặt)Bottom of Form

2. Đỗ Thị Huỳnh L; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 03/02/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 1 P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 4/12. Con ông Đỗ Văn V và bà Nguyễn Thị M (chết). Bị cáo sống như vợ chồng với Lê Văn T. Bị cáo có 04 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2020.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Ngày 29/3/2019, Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Bản án hình sự sơ thẩm số 52/HSST). Ngày 30/8/2019, chấp hành xong hình phạt tù. Chấp hành xong Bản án ngày 13/9/2024.

- Ngày 08/11/2021, Tòa án nhân dân Quận 8 tuyên phạt 03 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Bản án hình sự sơ thẩm số 146/HSST). Ngày 18/8/2024, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/11/2024. (bị cáo có mặt)Bottom of FormBottom of Form

Bị hại:

Ông Trịnh Thanh S; địa chỉ: F Đ, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Bùi Văn L1; Địa chỉ: B Ụ C, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 30/10/2024, Lê Văn T đến nhà của Đỗ Thị Huỳnh L (sống chung như vợ chồng với T) tại địa chỉ 1 P, Phường E, Quận H để thăm con ruột tên Đỗ Tấn P1 (con chung của T và L). Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 31/10/2024, T điều khiển xe môt tô hiệu Wave biển số 54L1-3094 (xe của L) chở L đi lấy điện thoại di động được sửa chữa tại cửa hàng điện thoại (không rõ địa chỉ) trên đường N, Phường A, Quận H. Sau khi lấy điện thoại xong, T tiếp tục điều khiển xe chở L đi chơi. Đến khoảng 11 giờ 50 phút ngày 31/10/2024, khi T điều khiển xe chở L đến trước địa chỉ 6 Đ, Phường G, Quận H thì nghe tiếng gà gáy, T thấy cửa chính đang khóa bằng ổ khóa ngoài, cửa cổng đang mở, thời điểm này vắng người nên T dừng lại, nảy sinh ý định vào bên trong để trộm gà đem bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Thực hiện ý định trên, T nói với L là ở ngoài canh xe, cảnh giới để T đi vào bên trong lấy trộm gà thì L đồng ý và kêu T “thì đi vô đi”. T đi bộ từ ngoài vào bên trong, phát hiện đây là khu nhà trọ 6 Đ, Phường G, Quận H. T đi sâu vào bên trong lối đi nhà trọ đến khu vực cửa sổ, dùng tay bám vào cửa sổ nhà 61/2 Đình An T1 nâng thân người lên, nhìn vào bên trong thấy có gà (06 con) nên T1 đi ngược ra cổng nơi Lạc đang đứng chờ. T1 leo lên xe nói với L “để anh chở vô bắt gà”, L im lặng rồi L xuống xe đi bộ đến tiệm T2 khoảng 05 mét mua gói thuốc Jet, rồi quay ngược lại leo lên xe ngồi. T1 chở L đi vào trong cổng nhà trọ, đậu xe tại lối đi nhà trọ trước nhà F Đ. T1 và L xuống xe rồi T1 quay xe lại, đầu xe hướng chạy ra cổng nhằm mục đích để bị phát hiện thì sẽ tẩu thoát. Lạc đứng bấm điện thoại di động, T1 đi đến cửa sổ nhìn vào bên trong thấy có gà. T1 quay lại xe, lúc này L vẫn đang đứng bấm điện thoại. T1 mở cốp xe ra lấy cây kìm bấm bằng kim loại màu bạc, dài khoảng 22 cm (để trong cốp từ trước) ra, đi lại cửa chính nhà F Đ cách vị trí đậu xe khoảng 1,5 mét, L vẫn đứng cạnh xe. T1 cầm cây kìm trên tay trái đưa lên kẹp vào khoen khóa cửa kim loại phía bên trái cánh cửa. T1 dùng lực tay bẻ khoen khóa cửa gãy rời khỏi cánh cửa, làm cửa hé mở ra. Khi bẻ khóa, T1 tạo ra tiếng động lớn. Lúc này, anh Trịnh Thanh S (chủ nhà) nghe tiếng động đi từ nhà 61 Đ ra đứng tại hàng rào kẽm hỏi T1: “Ủa, hai người làm gì vậy?” T1 lấy lý do không có thật trả lời rằng đang đi kiếm người thân. Anh S nói: “Kiếm người thân thì để tôi gọi về cho”. T1 thấy bị phát hiện nên quay lại xe, bỏ cây kìm lại cốp xe rồi T1 và L lên xe, T1 điều khiển xe chở L chạy rời đi hướng ra cổng thì lúc này, anh S đi bộ qua đến cổng, dùng hai tay kéo hai cánh cửa cổng sắt lại. T1 vẫn ngồi trên xe, L thì xuống xe đứng. Cả hai giải thích chỉ là đi kiếm người thân, nhưng anh S vẫn đứng dùng hai tay giữ cửa cổng lại, không cho T1 và L đi ra. Lúc này, T1 ngồi trên xe dùng tay kéo cánh cửa cổng ra, L cũng dùng tay đẩy cửa cổng. Khi cửa cổng bung ra, T1 chạy xe ra khỏi cửa cổng quẹo hướng bên trái, L nhảy lên xe ngồi ở phía sau, cả hai tẩu thoát hướng ra bến đò “B”. Anh S dùng tay nắm người của L lại làm xe đảo qua lại, anh S tiếp tục dùng tay nắm lấy tay cầm ở phía sau kéo lại làm cả hai bị té ngã xuống xe, làm rơi cây kìm kim loại ra ngoài do cốp xe không khóa được. T1 và L bỏ xe lại, chạy bộ hướng ra bến đò “B”, anh S cũng chạy bộ theo phía sau. Khi đến bờ kè sông C, khu vực gần bến đò, cả hai nhảy xuống dưới nước, đứng dưới sông cạnh bờ kè. Cùng lúc này, lực lượng Công an P2, Quận H đang đi tuần tra đến phát hiện, bắt giữ T1 và L đưa về trụ sở làm việc cùng vật chứng là xe mô tô và cây kìm. Tại đây, T1 và L đã khai nhận hành vi trộm cắp gà của anh Trịnh Thanh S. Vụ việc được lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q điều tra, làm rõ.

Ngày 01/11/2024, Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân Quận H1 ra Kết luận định giá tài sản 06 con gà của anh Trịnh Thanh S trị giá 1.040.000 đồng.

Ngày 28/11/2024, Trại tạm giam Chí H có thông báo về việc người bị tạm giam có thai đối với Đỗ Thị Huỳnh Lạc .

Qua xác minh, T1 và L có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên ngày 03/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đỗ Thị Huỳnh L và Lê Văn T, về tội “Trộm cắp tài sản” để điều tra. Tại Cơ quan điều tra, T và L đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, T và L còn khai nhận:

Vào khoảng 22 giờ 00 ngày 27/10/2024, T có đến bên hông chân cầu H, đối diện địa chỉ A H, Phường A, Quận H mua ma túy đá của một người nam thanh niên (cao khoảng 1m60, giọng nói miền N, không rõ lai lịch). T mua số lượng 01 số (tức là 0,1 gam) với số tiền 200.000 đồng, trả bằng tiền mặt. T tự đi tìm ma túy để mua, khi đến khu vực trên thấy người nam thanh niên nên hỏi và biết người này có ma túy, do đó đã hỏi mua. Việc mua ma túy chỉ có một mình T thực hiện, không có ai đi cùng. Tiền mua ma túy là tiền cá nhân của T, do đi làm mà có được. Ma túy T mua được chỉ nhằm mục đích sử dụng, không nhằm mục đích để bán kiếm lời. Số ma túy sau khi mua được, T cất trong người. Vào khoảng 23 giờ ngày 30/10/2024, trong lúc đang ở nhà của L, T ra đến gầm cầu H, đối diện số A P, Phường E, Quận H, ngồi dưới gầm cầu (thời điểm này chỉ có một mình T) lấy ma túy đá từ trong túi quần bên phải ra, số lượng 0,1 gam, được quấn sẵn trong giấy bạc, cùng với một hộp quẹt màu vàng. T mở giấy bạc chứa ma túy đá bên trong ra, rồi dùng hộp quẹt hơ lửa bên dưới giấy bạc. Khi ma túy bốc hơi lên, T đưa lên mũi hít một hơi, sau đó ngưng không sử dụng nữa. Lúc này, ma túy còn trong giấy bạc khoảng 0,05 gam. L đi từ nhà ra đến (không có hẹn sử dụng ma túy từ trước và việc T có ma túy, L cũng không biết). Khi thấy T đang sử dụng ma túy, L xin cho hút ma túy cùng, nhưng T không đồng ý. Lạc tiếp tục xin với lý do đang bị “xỉn”, thèm ma túy quá, nên T đồng ý. T đưa ma túy đá còn trong giấy bạc vừa hít xong cho L sử dụng. Lạc cũng dùng hộp quẹt đốt hơ lửa bên dưới giấy bạc, khi ma túy bốc hơi lên, Lạc hít. Sau khi hít xong, L là người vứt giấy bạc và hộp quẹt xuống sông cạnh gầm cầu. Qua test ma túy, T và L đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Lời khai của T và L phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu có tài hồ sơ vụ án .

Ngày 11/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Văn T, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại cáo trạng số 89/CT-VKSQ8 ngày 08/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo như sau:

- Lê Văn Tài, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 255 và điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Đỗ Thị Huỳnh L, về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Ngoài ra cáo trạng còn xác định:

Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo T hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (PC01) tiếp tục truy xét, khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo.

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 255 và điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Lê Văn T 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, điểm n khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Đỗ Thị Huỳnh L 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

Các bị cáo trình bày: Các bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng.

Quá trình tranh luận, đối đáp đại diện Viện kiểm sát cũng như bị cáo giữ nguyên quan điểm như đã nêu, không phát sinh tình tiết nào mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ áp dụng pháp luật: Bộ luật Hình sự áp dụng trong vụ án này là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với nguyên tắc xử lý nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu. Khoan hồng với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người liên quan, kết luận giám định, định giá cùng với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình tố tụng. Trên cơ sở xem xét đánh giá công khai các chứng cứ một cách đầy đủ và toàn diện nhất, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:

Vào khoảng 11 giờ 50 phút ngày 31/10/2024, do nảy sinh ý định trộm cắp tài sản khi đi ngang nhà trọ 6 Đ, Phường G, Quận H các bị cáo Lê Văn T và Đỗ Thị Huỳnh L đã có hành vi đột nhập bẻ khóa với mục đích lấy trộm gà của anh Trịnh Thanh S, nhưng khi đang thực hiện hành vi thì thì bị phát hiện bắt giữ. Tại thời điểm các bị cáo đột nhập thì trong chuồng có 06 con gà theo kết quả giám định trị giá là 1.040.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, các bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Ngoài ra qua trình điều tra còn xác định vào khoảng 23 giờ ngày 30/10/2024, tại gầm cầu H, đối diện số A P, Phường E, Quận H, bị cáo Lê V1 có hành vi cung cấp ma túy loại Methamphetamine và dụng cụ cho Đỗ Thị Huỳnh L sử dụng.

Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội như sau:

- Lê Văn T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 255 và điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Đỗ Thị Huỳnh L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Văn T, Đỗ Thị Huỳnh L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội địa phương. Đồng thời hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Lê Văn T còn trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy nên cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật để có tác dụng giáo dục, răn đe riêng và phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử xét hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên các bị cáo đều có nhân thân xấu nên cần xem xét khi lượng hình.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo L đang mang thai để áp dụng điểm s, n khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự tương ứng đối với các bị cáo.

Nhận định trên cũng là nhận định của Hội đồng xét xử để chấp nhận quan điểm luận tội cũng như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Đối với 06 (sáu) con gà là tài sản hợp pháp của anh S. Ngày 31/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh S, anh Trịnh Thanh S không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử cũng không xem xét giải quyết.

Đối với 01 (một) xe mô tô màu đỏ biển số 54L1-309, số khung PMKWCH4UM7K400501, số máy VKVIP52FMH-H400501, đây là phương tiện mà Lê Văn T và Đỗ Thị Huỳnh L sử dụng điều khiển khi thực hiện hành vi phạm tội. Xác minh tại Đội Cảnh sát giao thông trật tự Q1 được biết xe mô tô biển số 54L1-3094 do ông Bùi Văn L1, ngụ tại Phường A, Quận H đứng tên chủ sở hữu. Anh L1 khai nhận đã bán lại xe cho người không rõ lai lịch vào năm 2010. Anh Đỗ Minh Đ (anh ruột của L) khai nhận mua xe trên vào năm 2019 của một người (không rõ lai lịch), đến tháng 10/2024 cho L mượn xe trên để đi lại. Lạc sử dung xe đi trộm cắp tài sản anh Đ không biết. Do xe không có giấy tờ nên anh Đ không có yêu cầu nhận lại. Ngày 12/12/2024, P3 - Bộ C1 có kết luận giám định số khung PMKWCH4UM7K400501, số máy VKVIP52FMH-H400501 không thay đổi, không đủ cơ sở xác định biển số xe 54L1-3094 có phải do nhà nước có thẩm quyền cấp phát hay không. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã đề nghị đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp xe trên, nhưng đến nay chưa có ai liên hệ giải quyết do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu, sau 01 năm không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước

Đối với 01 (một) cây kìm kim loại màu bạc dài 22cm, đây là công cụ bị cáo T dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) USB màu trắng hiệu ADATA, dung lượng 16 GB, có chứa hình ảnh T và L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản xét cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 (một) khoen cửa sắt có dấu vết bị bẻ gãy, 01 (một) ổ khóa màu đen hiệu KI-MMAX xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 255 và điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Lê Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tổng hợp hình phạt của cả 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2024.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, điểm n khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Đỗ Thị Huỳnh L 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2024.

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) xe mô tô màu đỏ biển số 54L1-309, số khung PMKWCH4UM7K400501, số máy VKVIP52FMH-H400501, trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên nếu không có người nhận hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) cây kìm kim loại màu bạc dài 22cm, đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) khoen cửa sắt có dấu vết bị bẻ gãy, 01 (một) ổ khóa màu đen hiệu KIMMAX.

(theo biên bản giao nhận tang tài vật ngày 19/6/2025 của chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh)

Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 20/06/2025. đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ