vanban.org

Bản án 134/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 01/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị H 12 (Mười hai)tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo Bùi Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị hương trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thị H phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 48 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2017/HSST
Ngày:01-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒAÁN NHÂNDÂNHUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Đức Cảnh

2. Ông Hoàng Đắc Hân

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Thị Mến, cán bộ Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án thụ L số: 71/2017/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Bùi Thị H, sinh năm 1996; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: xóm Đ, thôn Trà Sơn, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; con ông: Bùi Văn B, sinh năm 1972 và bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1973; gia Đ có 02 anh em, Bùi Thị H là con thứ hai, hiện chung sống như vợ chồng với Nguyễn Văn M, sinh năm 1995, có 02 con chung (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, từ ngày 17/4/2017 (do nuôi con dưới 36 tháng tuổi). Có mặt.

Người bị hại:

Chị Đinh Thị L, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Anh Đỗ Việt N, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn 6, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Bùi Thị H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 16/02/2017, Bùi Thị H điều khiển xe mô tô BKS 16L2-6842 đi qua cửa hàng chăn ga gối đệm của chị Đinh Thị L, sinh năm 1988, ở thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng thấy không có người trông coi, xung quanh không có ai để ý nên H nảy sinh ý định lấy tài sản mang bán lấy tiền ăn tiêu. H đi qua gian bán hàng, vào phòng ngủ phía trong của gia Đ chị L thì phát hiện thấy trên móc treo quần áo trong phòng có 01 chiếc túi xách giả da tối màu (kích thước 15x25cm). H mở túi xách và lấy 8.550.000 đồng (Tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Việt N, rồi ra ngoài. Lúc này, H gặp chị L đi từ ngoài đường về cửa hàng. Để tránh bị phát hiện, H mua 01 gối ôm và 02 vỏ gối với giá 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), dùng tiền của H trả cho chị L. H điều khiển xe mô tô đi được khoảng 600m thì chị L đuổi theo, bắt giữ được H ở trước cửa nhà bà Đinh Thị V, sinh năm 1956 ở thôn 4, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị L kiểm tra trong túi áo khoác của H thấy số tiền 8.550.000 đồng mà H vừa lấy của chị L trước đó. Chị L cùng bà V đưa H và vật chứng về trụ sở Công an xã L để lập biên bản giải quyết. Cơ quan công an tiến hành thu giữ 8.550.000 đồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS, 16L2-6842 của H; 01 túi xách Giả da tối màu của chị L.

Do H đang có thai khoảng 09 tháng, sắp đến ngày sinh con nên Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với H.

Trong thời gian được tại ngoại, H tiếp tục phạm tội: Khoảng 08 giờ ngày 03/5/2017, H đi qua cửa hàng bán tạp hóa của anh Đỗ Việt N, sinh năm 1978 ở thôn 6, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng thấy không có người trông coi, H nảy sinh ý định lấy tài sản mang đi bán lấy tiền ăn tiêu. H đi vào vị trí hòm gỗ đựng tiền và thẻ điện thoại của cửa hàng. H lấy 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) tiền Việt N và 54 thẻ cào nạp điện thoại có giá trị sử dụng của các hãng: Viettel, Mobiphone, Vinaphone gồm các loại: Trị giá 20.000 đồng/thẻ = 25 chiếc (Trong đó: 12 chiếc của Vinaphone, 13 chiếc của Mobiphone); trị giá 50.000 đồng/thẻ = 16 chiếc (Trong đó: 03 chiếc của Viettel, 07 của Vinaphone, 06 chiếc của Mobiphone); trị giá 100.000đồng/thẻ có 13 chiếc (Trong đó: 08 chiếc của Viettel, 05 chiếc của Mobiphone). Tổng giá trị thẻ cào là 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm đồng). H vừa lấy tài sản xong thì bị anh N và một số người dân phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng nên đã đưa H đến Công an xã K trình báo.

Cơ quan công an tiến hành làm việc với Ngân hàng Agribank xác định số tiền 8.550.000 đồng H lấy của chị L ngày 16/02/2017 và số tiền 1.100.000 đồng H lấy của N ngày 03/5/2017 đều là tiền thật.

Cơ quan điều tra xác minh tại Trung tâm đại diện của các hãng dịch vụ viễn thông Viettel, Vinaphone, Mobiphone đều còn nguyên lớp nhũ bạc phủ, các thẻ này đều do các hãng Viettel, Vinaphone, Mobiphone phát hành, còn giá trị sử dụng. Tổng trị giá thẻ cào là 2.600.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, những người bị hại là chị Đinh Thị L và anh Đỗ Việt N khai nội dung như nội dung nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Thị H khai: Do không có việc làm nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để ăn tiêu cá nhân. Từ ngày 16/02/2017 đến ngày 02/5/2017, lợi dụng sơ hở của người khác, H đã hai lần thực hiện hành vi lén lút lấy tài sản là tiền và thẻ điện thoại của chị L và anh N như nội dung nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 19 tháng 7 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên đã truy tố Bùi Thị H về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 138 khoản 1 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Bùi Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố.

Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Thị H về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; Điểm p, g, l, khoản 1 và khoản 2, Điều 46 và điểm g, khoản 1, Điều 48 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị H từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Vật chứng trong vụ án: Tiền, túi xách và thẻ điện thoại đã trả lại cho người bị hại. Chị L và anh N đều đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo:

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Bùi Thị H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người bị hại, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 16/02/2017 đến ngày 03/5/2017, Bùi Thị H đã lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt tài sản là số tiền 8.550.000 đồng của chị Đinh Thị L và số tiền 1.100.000 đồng cùng số thẻ điện thoại của các hãng Viettel, Vinaphone, Mobiphone trị giá 2.600.000 đồng của anh Đỗ Việt N. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị L và anh N là 12.250.000 đồng. Do đó bị cáo Bùi Thị H đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo H là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo.

Xem xét đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, tính chất vụ án và quyết định hình phạt:

Xét bị cáo Bùi Thị H, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt không lớn; khi phạm tôi bị cáo là phụ nữ có thai. Mặt khác người bị hại chị Đinh Thị L và anh Đỗ Việt N có đơn xin niễm truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, p, l, khoản 1 và khoản 2, Điều 46 của Bộ luật hình sự. Tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, song trong một thời gian ngắn bị cáo H có hành vi chiếm đoạt tài sản của nhiều người đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 48 của Bộ luật hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử bị cáo H mức án trên khởi điểm của khung hình phạt tù mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự: Xét thấy bị cáo Bùi Thị H là người không có nghề nghiệp, đang nuôi con nhỏ dưới 01 tuổi nên hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vì vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về dân sự: Tài sản bị cáo Bùi Thị H chiếm đoạt với tổng giá trị là 12.250.000 đồng (Mười hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Trong đó tài sản H chiếm đoạt của chị Đinh Thị L là 8.550.000 đồng và của anh Đỗ Việt N là 3.700.000 đồng. Nay chị L và anh N đều đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử L vật chứng: Tiền, túi xách và thẻ điện thoại đã trả lại cho người bị hại. Chị L và anh N đều đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc xe Honda Dream BKS, 16L2-6842, quá trình điều tra xác minh chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn Ngọ, sinh năm 1971, địa chỉ: xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng (bố anh Nguyễn Văn Minh). Ông Ngọ không biết H sử dụng để phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Ngọ sử dụng là đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Bùi Thị H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điểm g, p,l, khoản 1 và khoản 2, Điều 46; điểm g, khoản 1, Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị H 12 (Mười hai)tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo Bùi Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày bản án được giao cho hoặc được niêm yết.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ