- Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Th và Th1 kháng cáo kêu oan; các bị cáo Gi, M, C kháng cáo xin được hưởng án treo; bị cáo Đ kháng cáo xin được phạt tiền - phạm t…"
- Tòa quyết gì? Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133/2022/HS-PT Ngày: 27-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán:
Ông Trịnh Xuân Miễn
Ông Đỗ Cao Khánh
- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Văn Mil, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Th Mộng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2022/TLPT-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Vũ Thị Th và các bị cáo khác do có kháng cáo của bị cáo Th và các bị cáo khác đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Vũ Thị Th, sinh năm 1987 tại Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 318/15, đường Lý Văn Lâm, khóm M, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở khác: Hẻm Thành Đội, khóm 4, phường 9, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình H và bà Nguyễn Thị Th2; có chồng tên Nguyễn Hoàng Th1 (là bị cáo cùng vụ án) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.
2. Nguyễn Hoàng Th1 (tên gọi khác là Thành), sinh năm 1986 tại Ninh Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 318/15, đường Lý Văn Lâm, khóm M, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở khác: Hẻm Thành Đội, khóm 4, phường 9, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị L; có vợ tên Vũ Thị Th (là bị cáo trong vụ án) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 28/9/2019 đến ngày 03/10/2019 được tại ngoại. Bị cáo có mặt.
3. Võ Hoàng Gi, sinh năm 1980 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp 8, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L và bà Nguyễn Thị V; có vợ tên Nguyễn Thị T (đã ly thân) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.
4. Bùi Ngọc M, sinh năm 1985 tại Cà Mau; nơi cư trú: Số 66/12, đường Nguyễn Thiện Năng, khóm 3, phường 4, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn R và bà Võ Thị Tr1; có chồng tên Quách Thanh T1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.
5. Phạm Thị Mộng C, sinh năm 1982 tại Cà Mau; nơi cư trú: Khóm 4, phường 6, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T2 và bà Nguyễn Thị U; có chồng tên Nguyễn Văn M và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.
6. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985 tại Cà Mau; nơi cư trú: Số 268/21, đường Lý Văn Lâm, Khóm M, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Đinh Thị Nh; có vợ tên Trần Thị H1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 29/9/2019 đến ngày 03/10/2019 được tại ngoại. Bị cáo có mặt.
- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị (không được Tòa án triệu tập): Phạm Kiều Tr, sinh năm 1983
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Kh, huyện Tr, tỉnh Cà Mau
- Người bào chữa cho các bị cáo Vũ Thị Th và Nguyễn Hoàng Th1: Luật sư Lê Th Thuận của Văn phòng Luật sư Lê Th Thuận thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau. Luật sư có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ ngày 27/9/2019, lực lượng Phòng Cảnh sát hình sự (PC02) Công an tỉnh Cà Mau bắt quả tang đối tượng Nguyễn Hoàng Th1 đang thực hiện hành vi mua bán số lô đề tại phòng khách nhà Th1 ngụ số 318/15, khóm M, phường N, thành phố C, bằng cách sử dụng điện thoại di động nhận tin nhắn với nội dung là mua số lô đề. Cùng thời điểm này tại phòng ngủ của Th1 phát hiện vợ Th1 là Vũ Thị Th cũng đang sử dụng điện thoại di động nhận và chuyển các tin nhắn có nội dung mua bán số đề và nhiều tờ giấy ghi các con số.
Vợ chồng Th và Th1 bắt đầu bán số đề từ khoảng tháng 01 năm 2019 cho đến ngày 27/9/2019 bị bắt quả tang. Việc bán số lô đề là do Th khởi xướng, bàn bạc với Th1 được Th1 đồng ý. Địa điểm bán số đề là tại nhà của vợ chồng Th và Th1 đang sinh sống, ngụ số 318/15, đường Lý Văn Lâm, khóm M, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Hình thức mua, bán số đề là người mua nhắn tin những con số cần mua và số tiền mua vào hai số điện thoại 0852.279.535 và 0941.595.962 của Th hoặc nhắn tin qua mạng xã hội Zalo tên “Đại Lộc” hoặc “Th Thư” của Th. Th thỏa thuận với người mua số khi nào nhắn tin cho Th nếu đồng ý thì Th trả lời “ok”, lúc gần 16 giờ là gần đến giờ xổ số có nhiều người nhắn tin mua số, Th không trả lời “ok” kịp nhưng vẫn đồng ý tính tiền thắng thua với người mua số. Th1 tìm người có nhu cầu mua số đề, Th1 cho số điện của Th để người mua liên lạc mua số. Th và Th1 bán số đề giữ lại ăn, thua trực tiếp với người mua số, không Gi phơi cho người khác. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết hằng ngày của các đài miền Nam và miền Bắc để tính ăn, thua với người mua số. Khi có kết quả xổ số kiến thiết Th đối chiếu thắng thua và tính tiền ra giấy, rồi chụp hình gửi qua Zalo cho Th1, Th1 căn cứ vào giấy tính tiền của Th rồi qua ngày hôm sau Th1 đi thu tiền và Gi tiền với người mua số. Th1 sử dụng điện thoại Iphone gắn sim số 0947.395.454 liên lạc với người mua số để thu tiền và Gi tiền. Những người mua số đề của vợ chồng Th chủ yếu là bạn bè quen biết và một số người lạ chỉ biết tên, không rõ họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể.
Th thỏa thuận cách thức chơi và tỷ lệ thắng thua với người mua số như sau:
- Số đầu, đuôi đài miền Nam và miền Bắc: Th thu 70,5%, hoặc 71%, tùy từng người mua. Nếu trúng thì người mua được trả số tiền gấp 70 lần tiền bỏ ra mua số (mua 1.000đ trúng được 70.000đ).
- Số lô 02 con đài miền Nam: Mua 1.000 đồng (đ), thu tiền 14.450đ hoặc 14.500đ. Trúng được 80.000đ.
- Số lô 02 con đài miền Bắc: Mua 1.000đ, thu tiền 21.600đ hoặc 21.650đ. Trúng được 80.000đ.
- Số lô 03 con đài miền Nam: Mua 1.000đ, thu 12.500đ hoặc 13.000đ. Trúng được 600.000đ.
- Số lô 03 con đài miền Bắc: Mua 1.000đ, thu 18.000đ. Trúng được 600.000đ.
- Số đá đài miền Nam: Mua 1.000đ, thu 24.000đ hoặc 25.000đ. Trúng được 600.000đ.
- Số đá đài miền Bắc: Mua 1.000đ, thu 38.000đ hoặc 39.000đ. Trúng được 600.000đ.
- Số xỉu chủ: Thu tiền giống như số đầu, đuôi. Mua 1.000đ trúng được 600.000đ.
Ngày 27/9/2019 vợ chồng Vũ Thị Th và Nguyễn Hoàng Th1 bán số lô, số đề các đài miền Nam gồm: Trà Vinh, Vĩnh Long và Bình Dương. Cụ thể như sau:
- Khoảng thời gian từ 14 giờ 19 phút đến 15 giờ 59 phút, Nguyễn Văn Đ dùng số điện thoại 0947.597.897 nhắn tin vào số điện thoại 0852.279.535 của Vũ Thị Th, có nội dung mua bán số lô, số đề. Qua kiểm tra tin nhắn trên điện thoại của Th thể hiện tổng số tiền Đ mua số đề là 9.610.000đ.
Số lô 02 con đài Trà Vinh là 6.570.000đ; Số lô 02 con đài Vĩnh Long là 1.350.000đ; Số lô 02 con, lô 03 con đài Bình Dương là 1.690.000đ.
Tại Cơ quan điều tra Đ khai nhận, ngày 27/9/2019, Đ dùng số điện thoại 0947.597.897 nhắn tin vào số điện thoại 0852.279.535 của Th mua số đề của đài Trà Vinh, Vĩnh Long và Bình Dương với tổng số tiền hơn 7.000.000đ. Ngoài ra, trước đó Đ còn mua số đề của vợ chồng Th nhiều lần nhưng không nhớ mua những con số nào, đài nào và thắng thua bao nhiêu tiền và Đ có mua số đề giùm hai người bạn tên “Thuận” và “Khánh” làm nghề lái xe, nhưng Đ không rõ họ tên và địa chỉ ở đâu. Đ chỉ mua số giùm hai người bạn, ngoài ra không còn mua giùm ai khác, Đ không có tổ chức bán số đề rồi Gi phơi lại cho vợ chồng Th.
- Khoảng thời gian từ 14 giờ 04 phút đến 16 giờ 12 phút, Phạm Thị Mộng C dùng mạng xã hội Zalo tên Ngọc của con gái C nhắn tin vào Zalo tên “Th Thư” của Th mua số đề, tổng số tiền C mua số đề là 16.668.000đ. Cụ thể như sau: Số đầu, đuôi; lô 02 con; lô 03 con và số đá đài Trà Vinh là 10.240.000đ; Số đầu, đuôi và lô 02 con đài Vĩnh Long là 3.196.000đ; Số đầu, đuôi và lô 02 con đài Bình Dương là 3.232.000đ. Tại Cơ quan điều tra C khai nhận, do kinh tế gia đình khó khăn và biết được Th1 bán số đề, nên C mua số đề giùm một số người (C chỉ biết mặt, không biết tên và địa chỉ cụ thể) rồi Gi phơi lại cho Th1 để hưởng tiền hoa hồng (cò). C mua số đề của Th1 khoảng hơn một tháng thì Th1 bị bắt, cách thức mua số đề là C dùng mạng xã hội Zalo tên C nhắn tin vào Zalo tên “Th Thư” của Th1 để mua số đề, khi có kết quả thắng thua thì qua ngày hôm sau gặp Th1 tính tiền. Ngày 27/9/2019, do điện thoại của C bị mất nên C lấy điện thoại của con gái Zalo tên “Ngọc” nhắn tin vào Zalo tên Th Thư của vợ Th1 để mua số đề. Đối với những lần mua số đề trước đó C không nhớ mua con số nào, đài nào, mua bao nhiêu tiền, lời, lỗ bao nhiêu.
- Khoảng thời gian từ 14 giờ 21 phút đến 15 giờ 33 phút, Bùi Ngọc M dùng mạng xã hội Zalo tên M nhắn tin vào Zalo của Th mua số đề, tổng số tiền M mua số đề là 18.335.000đ. Cụ thể như sau: Số đầu, đuôi và số lô 02 con đài Trà Vinh là 10.935.000đ; Số đầu, đuôi và lô 02 con đài Vĩnh Long là 3.700.000đ; Số đầu, đuôi và lô 02 con đài Bình Dương là 3.700.000đ. Tại Cơ quan điều tra M khai nhận, mua số đề của Th khoảng 01 tháng thì bị Công an bắt, những lần mua số đề trước ngày bị bắt M không nhớ mua bao nhiêu tiền, mua những con số nào, vì khi đối chiếu kết quả thắng thua thì M đã xóa bỏ tin nhắn mua số đề. Đối với ngày Th bị bắt qua kiểm tra điện thoại của Th thể hiện các con số lô, số đề và số tiền M nhắn tin gửi cho Th mua số đề ngày 27/9/2019 là đúng. M trực tiếp mua số đề ăn thua với Th, M không bán số đề cho người khác rồi Gi phơi lại cho Th để hưởng tiền cò.
- Lúc 15 giờ 58 phút đến 16 giờ 11 phút, Võ Hoàng Gi dùng mạng xã hội Zalo tên Hoàng Gi nhắn tin vào Zalo của Th mua số đề, tổng số tiền Gi mua số đề là 22.240.000đ. Cụ thể như sau: Số đầu, đuôi và lô 02 con đài Trà Vinh là 8.920.000đ; Số lô 02 con đài Vĩnh Long là 6.660.000đ; Số lô 02 con đài Bình Dương là 6.660.000đ. Tại Cơ quan điều tra Gi khai nhận, Gi là người trực tiếp mua số đề ăn thua với vợ chồng Th1, Gi không bán số cho người nào khác Gi phơi cho Th1 để hưởng tiền cò, Gi mua số đề của Th và Th1 được khoảng 02 tháng thì Th và Th1 bị bắt. Ngày 27/9/2019, Gi nhắn tin mua số đề của Th với những con số đề và số tiền đúng như biên bản kiểm tra điện thoại của Th.
- Khoảng thời gian từ 15 giờ 22 phút đến 15 giờ 37 phút, Phạm Kiều Tr dùng mạng xã hội Zalo của Tr nhắn tin vào Zalo của Th mua số đề, tổng số tiền Tr mua số đề là 5.652.000đ. Cụ thể như sau: Số đầu, đuôi; lô 02 con và số đá đài Trà Vinh là 3.124.000đ; Số đầu, đuôi; lô 02 con và số đá đài Vĩnh Long là 1.624.000đ; Số đầu, đuôi; lô 02 con và số đá đài Bình Dương là 904.000đ. Tại Cơ quan điều tra Tr khai nhận: Tr biết Th1 là do Th1 thường đến quán cà phê của Tr uống cà phê và biết Th1 có bán số đề nên Tr có mua số đề giùm ba người khách thường đến quán của Tr gồm: anh Sơn, chị Tiệp và Dì bán vé số (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể), Tr chỉ mua số đề giùm khách chứ không bán số Gi phơi để hưởng tiền hoa hồng. Khi nhắn tin mua số đề qua Zalo có lúc thì trả lời “ok”, cũng có lúc không cần trả lời “ok” nhưng vẫn đối chiếu bình thường. Th1 nói với Tr cứ gửi tin nhắn, có lúc Th1 trả lời “ok”, có lúc Th1 đi ra ngoài không có mạng không trả lời “ok” được. Nội dung tin nhắn và số tiền Tr mua số đề của Th vào ngày 27/9/2019 tại biên bản đối chiếu số tiền mua bán số đề ngày 16/10/2019 của Tr với Th là đúng.
- Khoảng thời gian từ 15 giờ 51 phút đến 15 giờ 53 phút, Lê Thị Tuyết Kh, dùng mạng xã hội Zalo của Kh nhắn tin vào Zalo của Th mua số đề, tổng số tiền Kh mua số lô 02 con, số lô 03 con của đài Trà Vinh với số tiền là 338.000đ. Tại Cơ quan điều tra Kh thừa nhận hành vi mua số lô, số đề của Th và Th1 phù hợp với lời khai nhận của Th và Th1, phù hợp với biên bản kiểm tra điện thoại.
- Khoảng thời gian từ 14 giờ 08 phút đến 15 giờ 22 phút ngày 27/9/2019, Ng dùng số điện thoại 0946.740.772 nhắn tin vào số điện thoại 0852.279.535 của Th chuyển các con số đề mà Ng đã bán cho người khác cho Th tổng số tiền là 1.332.000đ. Ngoài ra, Ng có hành vi mua bán số đề với những người khác. Tổng số tiền mà Ng mua bán số đề trong ngày 27/9/2019 là 4.372.000đ.
Số tiền đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề của vợ chồng Vũ Thị Th và Nguyễn Hoàng Th1 là 71.225.000 đồng; Nguyễn Văn Đ 9.610.000 đồng; Phạm Thị Mộng C 16.668.000 đồng; Bùi Ngọc M 18.335.000 đồng; Võ Hoàng Gi 22.240.000 đồng và Phạm Kiều Tr 5.652.000 đồng.
Đối với bị can Võ Hoàng Gi quá trình điều tra bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bị can bỏ địa phương đi không xác định được bị can ở đâu nên ngày 15/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau ra quyết định truy nã đối với bị can; đồng thời tách vụ án hình sự và tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Võ Hoàng Gi. Ngày 21/6/2021, bị can Võ Hoàng Gi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đầu thú. Cùng ngày, Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự và phục hồi điều tra bị can đối với Võ Hoàng Gi.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã quyết định:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Th 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Th1 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Gi 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo M 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo C 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đ 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với bị cáo còn lại, về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 08/7/2022, bị cáo Đ kháng cáo xin được phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ.
- Ngày 11/7/2022, các bị cáo Th, Gi, C, Th1, M kháng cáo. Trong đó:
+ Bị cáo Th đề nghị xác định lại số tiền bị cáo dùng để đánh bạc và xác định lại khung hình phạt, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo theo khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là oan cho bị cáo.
+ Bị cáo Th1 đề nghị xem lại tội danh đánh bạc, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội đánh bạc là oan cho bị cáo.
+ Bị cáo Gi đề nghị xác định lại khoản tiền dùng để đánh bạc, bị cáo có số tiền dùng để đánh bạc dưới 02 triệu đồng chưa đủ truy tố, xin được hưởng án treo.
+ Bị cáo C xin được phạt tiền hoặc hưởng án treo.
+ Bị cáo M xin được phạt tiền hoặc hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau về phần hình phạt.
- Luật sư bào chữa cho vợ chồng bị cáo Th trình bày: Đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra làm rõ thời điểm bắt quả tang vợ chồng bị cáo Th đánh số lô đề vào chiều ngày 27/9/2019, đồng thời xác định lại số tiền đánh bạc của bị cáo Th thông qua việc cho bị cáo Th được trực tiếp xem các tin nhắn có trong điện thoại di động của vợ chồng Th đã được thu giữ; Đề nghị xem lại tội danh đối với bị cáo Th1.
- Vợ chồng bị cáo Th trình bày: Vào chiều ngày 27/9/2019 có nhiều người dân sống xung quanh nhà vợ chồng bị cáo có chứng kiến lực lượng Công an bắt quả tang vợ chồng bị cáo bán số lô đề. Giữa bị cáo Th và người mua số có thỏa thuận với nhau về việc xác định thời điểm gần đến giờ xổ số đối với đài miền Nam là bắt đầu từ 16 giờ 10 phút đến 16 giờ 15 phút, trong khoảng thời gian này nếu có người nhắn tin mua số, Th không trả lời “ok” hoặc thả tim (đối với Zalo) kịp thì vẫn được tính tiền thắng thua với người mua số. Còn từ 16 giờ 10 phút trở về trước thì chỉ khi Th nhắn tin trả lời “0k” hoặc thả tim thì các tin nhắn mua số từ đó trở về trước mới được tính. Đối với bị cáo Gi, C chỉ có thỏa thuận việc chấp nhận tin nhắn mua số thông qua việc Th nhắn tin trả lời “0k” hoặc thả tim. Chiều ngày 27/9/2019 các tin nhắn mua số mà Gi, M gửi không được Th trả lời “0k” hoặc thả tim nên không tính tiền đánh số.
- Các bị cáo Gi, Đ, C, M thống nhất với trình bày của bị cáo Th. Riêng bị cáo C trình bày thêm, ngoài việc trực tiếp mua số của bị cáo Th, C còn Gi phơi cho Th để được Th cho tiền cò.
- Lời nói sau cùng của bị cáo Th: Bị cáo có đánh số đề vào chiều ngày 27/9/2019, bị cáo đồng ý với ý kiến của luật sư;
- Lời nói sau cùng của bị cáo Th1: Đề nghị xem lại tội danh của bị cáo;
- Lời nói sau cùng của bị cáo Gi, M, C: Đề nghị xem lại số tiền đánh bạc của bị cáo trong ngày 27/9/2019 đối với bị cáo Th, xin giảm nhẹ hình phạt;
- Lời nói sau cùng của bị cáo Đ: Đề nghị xem lại số tiền đánh bạc của bị cáo trong ngày 27/9/2019 đối với bị cáo Th, xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra xác định Vũ Thị Th và chồng là Nguyễn Hoàng Th1 bắt đầu bán số đề từ khoảng tháng 01 năm 2019 cho đến ngày 27/9/2019 bị bắt quả tang. Ở lần bắt quả tang xác định được số tiền mua bán số đề cụ thể của người mua và người bán. Còn những lần trước đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau không xác định được số tiền đánh bạc cụ thể của vợ chồng Th và những người liên quan.
Việc bán số lô đề do Th khởi xướng, bàn bạc với Th1 được Th1 đồng ý. Địa điểm bán số đề là tại nhà của vợ chồng Th tại số 318/15, đường Lý Văn Lâm, khóm M, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Hình thức mua, bán số đề là người mua nhắn tin những con số cần mua và số tiền mua vào hai số điện 0852.279.535 và 0941.595.962 của Th hoặc nhắn tin qua mạng xã hội Zalo tên “Đại Lộc” hoặc “Th Thư” của Th. Th1 tìm người có nhu cầu mua số đề, Th1 cho số điện của Th để người mua liên lạc mua số. Th và Th1 bán số đề giữ lại ăn, thua trực tiếp với người mua số, không Gi phơi cho người khác. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết hằng ngày của các đài miền Nam và miền Bắc để tính ăn, thua với người mua số. Khi có kết quả xổ số kiến thiết, Th đối chiếu thắng thua và tính tiền ra giấy, rồi chụp hình gửi qua Zalo cho Th1, Th1 căn cứ vào giấy tính tiền của Th rồi qua ngày hôm sau Th1 đi thu tiền và Gi tiền với người mua số. Riêng bị cáo Phạm Thị Mộng C khai nhận, do kinh tế gia đình khó khăn và biết được Th1 bán số đề, nên C mua số đề giùm một số người (C chỉ biết mặt, không biết tên và địa chỉ cụ thể) rồi Gi phơi lại cho Th1 để hưởng tiền hoa hồng (tiền cò). Đối với các bị cáo Võ Hoàng Gi, Bùi Ngọc M, Nguyễn Văn Đ và Phạm Kiều Tr khai nhận là người trực tiếp mua số đề ăn thua với vợ chồng Th, không bán số cho người nào khác Gi phơi cho Th1 để hưởng tiền hoa hồng. Cấp sơ thẩm xác định số tiền vợ chồng Th đánh bạc trong ngày bị bắt quả tang là 71.255.000 đồng. Với các tình tiết nêu trên thể hiện hành vi của vợ chồng Th đã hình thành đường dây mua bán số đề có quy mô lớn, có dấu hiệu của tội tổ chức đánh bạc. Bị cáo C ngoài hành vi đánh bạc còn có dấu hiệu đồng phạm giúp sức cho vợ chồng bị cáo Th trong việc tổ chức đánh bạc. Các bị cáo còn lại gồm Gi, M, Đ và Tr thực hiện hành vi đánh bạc.
Ngoài ra, việc xác định thời điểm phạm tội quả tang đối với vợ chồng bị cáo Th cũng như xác định số tiền đánh bạc đối với các bị cáo xảy ra vào ngày 27/9/2019, quá trình điều tra còn có nhiều mâu thuẫn, chưa đầy đủ, chưa phù hợp với các tình tiết của vụ án. Cụ thể:
Về việc xác định thời điểm phạm tội quả tang của vợ chồng bị cáo Th:
Quá trình điều tra và tại các phiên tòa xét xử, vợ chồng bị cáo Th khai lực lượng Công an vào nhà vợ chồng bị cáo Th bắt quả tang lúc 15 giờ 38 phút ngày 27/9/2019, nhưng đến lúc 16 giờ mới lập biên bản. Biên bản bắt người phạm tội quả tang được Phòng PC02 Công an tỉnh Cà Mau lập lúc 16 giờ 00 phút ngày 27/9/2019 tại nhà vợ chồng bị cáo Th thể hiện thời gian lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng với thời gian bắt quả tang (cùng 16 giờ), kết thúc lúc 18 giờ cùng ngày. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ việc khi bắt quả tang thì lực lượng Công an tiến hành lập biên bản Ngy hay sau khi lực lượng Công an tiến hành thu giữ đồ vật, tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi đánh bạc của vợ chồng bị cáo Th mới tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tuy nhiên, kết quả điều tra bổ sung không đầy đủ, không đảm bảo tính khách quan, còn có mâu thuẫn, cụ thể:
- Ngày 08/3/2021, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Cà Mau có Công văn số 21 với nội dung: “Ngày 27/9/2019, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Cà Mau tổ chức bắt quả tang 03 điểm trong đường dây hoạt động mua, bán số lô đề, trong đó có điểm tại Khóm M, phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau do Vũ Thị Th và Nguyễn Hoàng Th1 thực hiện. Việc tổ chức bắt quả tang được thực hiện một cách chủ động, đồng loạt, thời gian bắt đầu từ 16 giờ 00 phút. Lúc 16 giờ 00 phút ngày 27/9/2019, lực lượng đến nhà Vũ Thị Th và Nguyễn Hoàng Th1. Khi vào nhà phát hiện Th và Th1 đang thực hiện hành vi mua, bán số lô đề thì đồng chí Đoàn Văn Pho tiến hành lập biên bản Ngy; đồng chí Nguyễn Công Đáp thực hiện việc kiểm tra, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan; lực lượng còn lại làm công tác đảm bảo ANTT và mời người chứng kiến” (bút lục số 1161). Tuy nhiên, tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với vợ chồng bị cáo Th được lập lúc 16 giờ 00 phút ngày 27/9/2019 (bút lục số 64-65); biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Trung Em được lập lúc 16 giờ 02 phút ngày 27/9/2019 (bút lục số 66-67) và biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Tuyết Ng được lập lúc 16 giờ 20 phút ngày 27/9/2019 (bút lục số 68-69)
- Tại Bản kết luận điều tra bổ sung số 18 ngày 02/6/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau xác định vợ chồng Th khi bị lực lượng công an bắt quả tang mới ngừng thực hiện hành vi phạm tội, việc bắt quả tang phải được kiểm tra, thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội, sau đó mới lập biên bản (bút lục số 1030-1031).
- Tại Bản kết luận điều tra bổ sung số 20 ngày 11/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau xác định hình ảnh camera do vợ chồng Th cung cấp thể hiện có nhiều người mở cổng rào vào trong nhà Th, thời lượng 02 phút 18 giây, nhưng không thể hiện được quá trình từ khi bắt quả tang đến khi lập biên bản của lực lượng Công an đối với vợ chồng Th (bút lục số 887).
- Tại phiên tòa, vợ chồng bị cáo Th xác định vào thời điểm lực lượng Công an vào nhà vợ chồng Th bắt quả tang thì có nhiều người dân sống xung quanh chứng kiến.
Với các dữ kiện nói trên cho thấy, Cơ quan điều tra chưa tiến hành điều tra, xác minh, cho đối chất giữa những người tham gia, người chứng kiến việc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với vợ chồng bị cáo Th vào ngày 27/9/2019 cũng như xác minh những người có hiểu biết sự việc này để xác định chính xác thời điểm bắt quả tang đối với vợ chồng bị cáo Th bán số lô đề.
Về xác định số tiền đánh bạc:
Quá trình điều tra xác định, Th thỏa thuận với người mua số khi nào nhắn tin cho Th nếu đồng ý thì Th trả lời “ok”, lúc gần 16 giờ là gần đến giờ xổ số có nhiều người nhắn tin mua số, Th không trả lời “ok” kịp nhưng vẫn đồng ý tính tiền thắng thua với người mua số. Tuy nhiên, tại phiên tòa, các bị cáo Th, Đ, M đều thống nhất trình bày: Việc xác định thời điểm gần đến giờ xổ số đối với đài miền Nam là bắt đầu từ 16 giờ 10 phút đến 16 giờ 15 phút, trong khoảng thời gian này nếu có người nhắn tin mua số, Th không trả lời “ok” hoặc thả tim (đối với Zalo) kịp thì vẫn được tính tiền thắng thua với người mua số. Còn từ 16 giờ 10 phút trở về trước thì chỉ khi Th nhắn tin trả lời “0k” hoặc thả tim thì các tin nhắn mua số từ đó trở về trước mới được tính. Riêng đối với bị cáo Gi và C chỉ có thỏa thuận khi Th nhắn tin trả lời “0k” hoặc thả tim thì các tin nhắn mua số của Gi và C mới được tính. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã xác định số tiền đánh số lô đề của các bị cáo vào ngày 27/9/2019 dựa trên tất cả các tin nhắn được gửi đến Th tính đến thời điểm 16 giờ ngày 27/9/2019. Riêng số tiền đánh bạc của bị báo Gi được tính thêm một tin nhắn sau 16 giờ (tin nhắn lúc 16 giờ 11 phút). Trong số các tin nhắn gửi đến mua số của Th có trong hồ sơ thể hiện, có người mua số không được Th nhắn tin trả lời “0k” hay thả tim, có người mua số có tin nhắn được Th nhắn tin trả lời “0k” hoặc thả tim, có tin nhắn không có trả lời. Cụ thể:
- Đối với bị cáo Tr, thời gian từ 15 giờ 22 phút đến 15 giờ 37 phút ngày 27/9/2019, Tr nhắn 03 tin mua số của Th, nhưng Th không có nhắn tin trả lời (bút lục số 115); Đối với bị cáo Gi, bị cáo nhắn tin mua số của Th, tin nhắn được gửi đi lúc 15 giờ 58 phút ngày 27/9/2019, sau 03 tin nhắn, không thấy Th trả lời nên Gi mới nhắn tin tiếp cho Th có nội dung “Sao ah ko 0k” (bút lục số 110); Đối với bị cáo Đ, từ 14 giờ 19 phút đến 15 giờ 14 phút ngày 27/9/2019, Đ nhắn tin mua số của Th, Th có trả lời “0k” vào lúc 15 giờ 18 phút (bút lục 89-91), từ lúc 15 giờ 57 phút đến 15 giờ 59 phút Đ tiếp tục nhắn tin mua số đài Trà Vinh, Vĩnh Long và Bình Dương nhưng Th không có nhắn tin trả lời cho Đ; Đối với bị cáo M, thời gian từ 14 giờ 21 phút đến 15 giờ 33 phút ngày 27/9/2017, M có nhắn tin mua số của Th, Th không có nhắn tin trả lời; Đối với bị cáo C, từ 14 giờ 04 phút đến 16 giờ 12 phút ngày 27/9/2019, C dùng zalo tên Ngọc (con gái C) nhắn 28 tin vào tài khoản zalo tên Th Thư của Th để mua số, trong đó, Th thả tim từ tin nhắn thứ 15 trở về trước, các tin nhắn sau đó Th không có trả lời, đến 16 giờ 47 phút ngày 27/9/2019, C còn nhắn tin cho Th hỏi “không trả lời 0k có tín toa em hôn vậy”. (bút lục số 93-102).
Với cách xác định số tiền đánh bạc của các bị cáo trong vụ án chưa được điều tra làm rõ, còn có nhiều mâu thuẫn gây bất lợi cho các bị cáo.
Xét thấy, việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đối với vụ án chưa xác định và đánh giá đầy đủ, toàn diện hành vi phạm tội, tính chất của vụ án dẫn đến sai sót trong việc định tội danh, xác định thời điểm bắt quả tang vợ chồng bị cáo Th thực hiện hành vi bán số lô đề vào chiều ngày 27/9/2019 cũng như xác định số tiền đánh bạc đối với từng bị cáo, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được các vấn đề này, nên cần phải hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm để điều tra, giải quyết lại theo thủ tục chung.
Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau không được chấp nhận, ý kiến của luật sư được chấp nhận một phần.
Do hủy án sơ thẩm, nên không xem xét kháng cáo của các bị cáo Th, Th1, Gi, M, C và Đ. Các bị cáo này không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Do hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, nên án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo Phạm Kiều Tr (không có kháng cáo, không bị kháng cáo, bị kháng nghị) không có hiệu lực thi hành.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a, b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
2. Giao hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau để điều tra, giải quyết lại theo thủ tục chung.
3. Bị cáo Phạm Kiều Tr không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo Vũ Thị Th, Nguyễn Hoàng Th1, Võ Hoàng Gi, Bùi Ngọc M, Phạm Mộng C và Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân tp Cà Mau; - Công an tp Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân tp Cà Mau; - Chi cục THADS tp Cà Mau; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |