- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mã Thế T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mã Thế T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133/2017/HS-ST Ngày 27/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lò Văn Minh.
2. Ông Quàng Văn Hặc.
Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Phạm Quốc Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 133/2017/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Mã Thế T, sinh ngày 24/8/1985; Nơi ĐKNKTT: Tổ X, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Mã Nguyên T, sinh năm 1962 và bà Lê Thị Q, sinh năm 1962; Có vợ là Đỗ Thị L, sinh năm 1983 (đã ly hôn), có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
Ngƣời bị hại: Anh Phạm Đức M, sinh năm 1980; Nơi ĐKNKTT: Tổ 2, phường T, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Mã Thị T1, sinh năm 1988; Nơi ĐKNKTT: Tổ 4, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.
- Anh Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1974; Nơi ĐKNKTT: Tổ 3, phường H, thành phố Sơn La. Tạm trú tại: Tổ 5, phường S, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Mã Thế T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 03/5/2017, Mã Thế T trú tại tổ X, phường Q, thành phố Sơn La đi vào phòng bảo vệ của bến xe khách tỉnh Sơn La lấy chìa khóa ô tô khách BKS: 26K-8788 của anh Phạm Đức M để vào xe lấy sạc pin điện thoại (trước đây T là phụ xe ô tô khách BKS: 26K-8788). Sau khi lấy được sạc điện thoại T đi xuống cuối xe để lấy khăn lạnh lau mặt thì nhìn thấy 01 máy phát điện xe ô tô để ở gường nằm số 14. T đã nảy ý định lấy trộm chiếc máy phát điện bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. T bê chiếc máy phát điện ra khỏi xe và gọi 01 chiếc Taxi đỗ gần đấy chở chiếc máy phát điện về nhà cất giấu. Đến ngày 11/5/2017 T nói dối em gái là Mã Thị T1 có chiếc máy phát điện của xe khách Điện Biên nhờ bán hộ. Ngày 12/5/2017 T1 mang chiếc máy phát điện bán cho anh Nguyễn Ngọc T2 ở tổ 5, phường S, thành phố Sơn La với giá 3.000.000 (ba triệu đồng). Số tiền bán máy phát điện T cho T1 500.000 (năm trăm nghìn đồng), còn lại 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn đồng) T tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 20/5/2017 Công an phường Quyết Tâm thành phố Sơn La mời lên làm việc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc máy phát điện ô tô hiệu MANDO AL218176 (thu giữ tại Gara ô tô của anh Nguyễn Ngọc T2)
Ngày 22/5/2017 Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La đã ra quyết định trưng cầu định giá tài sản 01 chiếc máy phát điện ô tô hiệu MANDO AL218176 mua từ 4/2013. Ngày 24/5/2017 Hội đồng định giá tài sản thành phố Sơn La có Thông báo kết luận định giá số 122/TB, xác định giá trị còn lại của 01 chiếc máy phát điện ô tô hiệu MANDO AL218176 mua từ tháng 4/2013 là 6.000.000 (sáu triệu đồng).
Ngày 19/6/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã trao trả chiếc máy phát điện ô tô hiệu MANDO AL218176 cho chủ sở hữu là anh Phạm Đức M.
Đối với Mã Thị T1 và Nguyễn Ngọc T2 là những người đã mua, bán chiếc máy phát điện vào ngày 12/5/2017. Khi mua bán T2, T1 đều không biết tài sản đó do Ttrộm cắp mà có nên hành vi của Mã Thị T1 và Nguyễn Ngọc T2 không cấu thành tội phạm.
Do có hành vi phạm tội nêu trên tại bản cáo trạng số 105/KSĐT ngày 14/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Mã Thế T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bi ̣ cáoMã Thế T đa khai nhâ ̣̃
n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của minh đúng nhưnội dung bản Cáo trạng đã nêu và thừ a nhâ ̣n bản Cáo tra ̣ng
̀ truy tố bi ̣ cáo về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luâ ̣n, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố ta ̣i phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tich đánh giá
́ tính chất, mứ c đô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo, cũng như qua xem xét các tinh tiết
̀ tăng nă ̣ng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mã Thế T phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Mã Thế T từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 41; khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả cho anh Phạm Đức M: 01 chiếc máy phát điện ô tô hiệu MANDO AL218176.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Tại phiên tòa hôm nay, lờ i khai nhâ ̣n tô ̣i của bi ̣ cáo Mã Thế T là có căn cứ phù hợp với thời gian , đi ̣a điểm xảy ra tô ̣i pha ̣m , đơn trình báo; vật chứng thu giữ cũng như lờ i khai của ngư ời bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu có trong hồ sơ vu ̣ án xác đi ̣nh: Khoảng 13 giờ, ngày 03/5/2017 Mã Thế T đã có hành vi lén lút trộm cắp chiếc máy phát điện ô tô hiệu MANDO AL218176 trị giá 6.000.000 (sáu triệu đồng) của anh Phạm Đức M để trên xe khách BKS:26K-8788 mang về nhà, sau đó nhờ em gái là Mã Thị T1 mang đi bán, được tiền T tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 20/5/2017 Công an phường Quyết Tâm thành phố Sơn La mời lên làm việc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đã có đủ cơ sở để kết luâ ̣n: Bị cáo Mã Thế T phạm tội "Trô ̣m cắp tài sản", tô ̣i phạm được quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đa truy tỗ
́ là đúng ngườ i , đúng tô ̣i, đúng pháp luâ ̣t.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đa xâm pha ̣̃
m t rực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của ng ười khác được pháp luật bảo vệ . Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây thiê ̣t ha ̣i về vâ ̣t chất cho ngườ i bi ̣ ha ̣i mà còn gây mất trâ ̣t tự tri ̣ an ta ̣i đi ̣a phương , gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, bị cáo thực hiê ̣n hành vi tội phạm vớ i lỗi cố ý. Do vâ ̣y, cần phải có một mứ c hinh pha ̣t phù hợp vớ i hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo , nhằm giáo du ̣c
̀ riêng và phòng ngừ a chung.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mã Thế T tuổi đờ i còn trẻ, có nhân thân tốt , chưa có tiền án , tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trườ ng hợp it nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, được người
́ bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo , tỏ ra ăn năn hối cải , khai nhâ ̣n toàn bô ̣ hà nh vi pha ̣m tô ̣i của minh nên cần áp dụng các tình tiết
̀
giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Mã Thế T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; qua xem xét tinh chất , mứ c đô ̣ phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo
́ Hội đồng xét xử nhâ ̣n thấy không cần thiết phải cách ly bi ̣ cáo ra khỏi đờ i sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xa hô ̣̃ i.
Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật Hình sự, song xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Mã Thị T1 là người trực tiếp mang chiếc máy phát điện đi bán. Quá trình điều tra xác định khi mang chiếc máy phát điện đi bán T1 không biết đó là tài sản do T trộm cắp mà có. Hành vi đó của T1 không cấu thành tội phạm. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La không xử lý hình sự đối với T1 là phù hợp pháp luật. Trong giai đoạn điều tra T1 đã trả lại cho Mã Thế T 500.000 (năm trăm nghìn đồng), để bị cáo khắc phục hậu quả. Mã Thị T1 có đơn xin giải quyết vắng mặt và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Nguyễn Ngọc T2 là người trực tiếp mua chiếc máy phát điện do T1 bán. Quá trình điều tra xác định khi mua bán anh T2 không biết đó tài sản do T trộm cắp mà có. Hành vi của Nguyễn Ngọc T2 không cấu thành tội phạm. Nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự là phù hợp quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Ngọc T2 đã nhận đủ số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng mua chiếc máy phát điện do bị cáo tự nguyện trả và có đơn xin giải quyết vắng mặt, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về trách nhiê ̣m dân sự và vật chứng vụ án: Chấp nhận việc cơ quan Công an thành phố Sơn La đã trả lại cho người bị hại là anh Phạm Đức M chiếc máy phát điện ô tô hiệu MANDO AL218176. Anh M đa nhâ ̣̃
n la ̣i được tài sản, có đơn xin giải quyết vắng mặt và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thườ ng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Mã Thế T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999:
Xử phạt bị cáo Mã Thế T 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 16 (mười sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/9/2017).
Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
Giao bị cáo Mã Thế T cho Ủy ban nhân dân phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Mã Thế T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại anh Phạm Đức M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc T2, chị Mã Thị T1 không yêu cầubị cáo bồi thườ ng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 41; khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; điểm b, khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận việc cơ quan Công an thành phố Sơn La đã trả lại cho người bị hại anh Phạm Đức M: 01 chiếc máy phát điện ô tô hiệu MANDO AL218176.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016:
Buộc bị cáo Mã Thế T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2017); người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - THAHS; - Chi cục THA thành phố Sơn La; - UBND phường Quyết Tâm, Thành phố Sơn La. - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (đa kỹ ́) Nguyễn Thị Phƣợng |