- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh H cùng đồng phạm - Tổ chức sử trụng tái phép chất ma túy, Mua bán trái phép chất ma túy - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Hồ Ngọc H2, Vũ Văn T1, Hoàng Văn V1, Mai Văn B, Nguyễn Hải T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 132/2026/HS-ST Ngày 02 - 6 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: bà Bế Minh Hằng và ông Nguyễn Quang Hiếu
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Minh Thương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Phạm Lã Việt Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2026/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Lê Minh H, sinh ngày 31/3/1993 tại tỉnh Quảng Ninh;
Nơi cư trú: tổ D, khu H, phường H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân Công ty TNHH M1; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình M và bà Đinh Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:
- Ngày 12/3/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 03/01/2015 chấp hành xong hình phạt và các quyết định của Bản án.
- Ngày 13/7/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 23/4/2022 chấp hành xong hình phạt và các quyết định của Bản án.
- Ngày 10/10/2022, Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 5.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, đã nộp phạt ngày 03/01/2023.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
2. Vũ Văn T1, sinh ngày 01/11/1976 tại tỉnh Hưng Yên;
Nơi thường trú: thôn B, xã B, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện tại: khu G, phường V, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân Công ty TNHH M1; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân C và bà Phạm Thị H1; có vợ là Bùi Thị P và 01 con sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân:
- Ngày 25/4/2012, Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc 05-06 tỉnh Thái Bình, đã chấp hành xong.
- Ngày 23/01/2017, Công an huyện K, tỉnh Thái Bình xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, đã nộp phạt ngày 23/01/2017.
- Ngày 30/7/2021, Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 10/5/2022 chấp hành xong hình phạt và các quyết định của Bản án.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
3. Mai Văn B, sinh ngày 24/3/1965 tại tỉnh Hưng Yên;
Nơi thường trú: thôn H, xã T, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện tại: khu G, phường V, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân Công ty TNHH M1; trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn V và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Nhâm Thị T2 và có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
4. Hồ Ngọc H2, sinh ngày 21/4/1981 tại tỉnh Quảng Ninh;
Nơi thường trú: tổ C, khu T, phường H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ A, khu T, phường H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân Công ty TNHH M1; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Vĩnh H3 và bà Bùi Thị G; có vợ là Vi Thị D và có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
5. Hoàng Văn V1, sinh ngày 05/7/1990 tại tỉnh Ninh Bình;
Nơi thường trú: tổ A, khu T, phường H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: thôn Đ, phường H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân Công ty TNHH M1; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc Q và bà Hoàng Thị L1; có vợ là Nguyễn Thanh T3 và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
6. Nguyễn Hải T4, sinh ngày 16/10/1970 tại thành phố Hải Phòng;
Nơi cư trú: tổ C, khu C, phường C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân Công ty TNHH M1; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T5 và bà Ninh Thị L2; có vợ là Trần Thị B1 và có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 01/7/2014, Công an thị xã C, tỉnh Hải Dương xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: anh Bùi Thế A; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Minh H, Hồ Ngọc H2, Vũ Văn T1, Hoàng Văn V1, Mai Văn B và Nguyễn Hải T4 cùng làm công nhân tại trạm trộn bê tông của Công ty TNHH M1 thuộc phường V, tỉnh Quảng Ninh và đều là các đối tượng sử dụng ma túy.
Khoảng 14 giờ ngày 15/12/2025, tại khu vực phòng nghỉ của Công ty TNHH M1 (gọi tắt là phòng nghỉ), H2 biết H có ma túy bán nên hỏi mua của H 1.000.000 ma túy loại “đá” để sử dụng. H đồng ý, rồi lấy trong túi áo đang mặc 01 túi nilon bên trong chứa ma túy loại “đá” đưa cho H2. H2 nhận ma túy và chuyển khoản số tiền mua ma túy vào tài khoản ngân hàng của H. Số ma túy mua được, H2 đã sử dụng một mình hết.
Khoảng 19 giờ ngày 18/12/2025, tại phòng nghỉ, H rủ T1 và T4 cùng sử dụng ma túy loại “đá”, T1 và T4 đều đồng ý. H hỏi T4: “Hộp kính của cháu đâu”, T4 nghe thấy vậy lấy 01 hộp kính màu đen ở cạnh loa trong phòng nghỉ, mở ra thấy có 01 túi nilon chứa ma túy loại đá (do tự H để vào hộp kính trước đó). T4 bảo T1 lấy bộ dụng cụ để mọi người sử dụng ma túy, T1 hiểu ý rồi lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (của T1, được để sẵn trong phòng) lắp ráp hoàn chỉnh rồi để lên bàn. T4 cầm túi ma túy đổ hết vào “nỏ” rồi đặt bộ dụng cụ sử dụng trên bàn, vứt vỏ túi nilon đi. T1 cầm bộ sử dụng, lấy 01 bật lửa ga màu đỏ có sẵn trong phòng châm đốt ma túy rồi tự sử dụng bằng hình thức hút qua đường miệng. Sau đó, T1 cầm bật lửa tiếp tục châm đốt ma túy trong nỏ rồi đưa bộ dụng cụ hướng về phía H mời H sử dụng, H cầm dụng cụ tự hút 01 hơi rồi đặt bộ dụng cụ xuống bàn. T4 cũng tự cầm bộ dụng cụ rồi sử dụng ma túy. Trong quá trình sử dụng, do trước đó T1 vay H 150.000 đồng để tiêu xài cá nhân nên H bảo T1 trả số tiền này. T1 lấy đưa cho H 500.000 đồng, H hỏi: “Sao anh đưa nhiều thế” thì T1 trả lời: “Anh góp thêm tiền mua đồ hôm nay” (ý là T1 muốn góp tiền mua ma túy với H cho cả ba sử dụng). Sau khi sử dụng hết số ma túy trong “nỏ” thì cả ba ra khỏi phòng đi làm.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, H, T4, B, H2 đi làm về phòng nghỉ, T4 đi tắm. Bẩy thấy H cầm 01 túi ma túy nên hỏi mua ma túy với giá 500.000 đồng để mọi người sử dụng. H đồng ý bán và nói khi nào có tiền thì trả H sau. H cũng muốn sử dụng ma túy cùng nên góp thêm ma túy bằng cách đưa 01 túi ma túy có khối lượng nhiều hơn 01 túi ma túy bình thường cho Bẩy. B cầm túi ma túy vừa mua của H đưa cho H2 rồi bảo H2 lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sẵn ở gầm giường đặt lên bàn, rồi cầm túi ma túy cho vào “nỏ”, dùng bật lửa có sẵn trong phòng châm đốt ma túy mời B sử dụng. Bẩy sử dụng ma túy, rồi đến H2 tự cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sử dụng xong, H2 cầm bộ dụng cụ châm đốt ma túy mời H sử dụng. Cả nhóm sử dụng thêm 02 lượt ma túy thì T4 tắm xong vào phòng. H nói với T4: “Cái này của ông B mời” (ý muốn mời T4 ngồi xuống cùng sử dụng ma túy). Khi T4 ngồi xuống bàn thì H2 cầm bật lửa châm đốt ma túy mời T4 sử dụng, T4 cầm bộ dụng cụ rồi tự sử dụng ma túy. Lúc này, V1 đi làm về vào phòng nghỉ, H cầm bộ dụng cụ đưa cho V1 và mời V1 sử dụng, V1 tự sử dụng rồi đặt dụng cụ xuống. Tiếp đến, H2 tự sử dụng ma túy và mời B, H sử dụng ma túy. Khi cả nhóm đã sử dụng hết ma túy, T4 thay quần áo đi ra ngoài, trước khi đi T4 hỏi mua ma túy loại “đá” của H với giá 300.000 đồng. H đồng ý bán rồi lấy trong túi áo ra 01 túi ma túy cho T4. Thụy chuyển khoản số tiền trên cho H. Sau khi mua được ma túy, T4 mang về nhà tại phường C sử dụng một mình hết.
Khoảng 00 giờ ngày 19/12/2025, cả nhóm sử dụng hết ma túy, H2 muốn mời mọi người sử dụng ma túy tiếp nên hỏi mua của H 01 túi ma túy “đá” với giá 500.000 đồng, thanh toán bằng hình thức chuyển khoản. Sau khi nhận tiền, H đưa cho H2 01 cục ma túy, H2 cầm cho vào 01 túi nilon đặt lên bàn nghiền nhỏ rồi đưa cho V1 để cho ma túy vào “nỏ”, châm đốt ma túy, rồi để bộ dụng cụ xuống bàn cho mọi người sử dụng, lần lượt B, H2, H và V1 thay nhau sử dụng khoảng 03 lượt thì gần hết số ma túy. Một lúc sau, T1 đi làm về vào ngồi cùng cả nhóm rồi tự cầm bộ dụng cụ ma túy chuẩn bị sử dụng, H nói với T1: “Đồ của V1, anh chơi đã hỏi nó chưa”. T1 bảo với V1: “Việt ơi cho anh xin khói”. V1 đồng ý và nói: “Anh cứ chơi đi”. T1 cầm bộ dụng cụ sử dụng hết ma túy trong nỏ.
Hồi 00 giờ 20 phút ngày 19/12/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp cùng Công an phường C, tỉnh Quảng Ninh tiến hành kiểm tra hành chính, xét nghiệm nhanh ma túy đối với Nguyễn Hải T4, kết quả dương tính với ma túy loại Methamphetamine, T4 khai đã sử dụng ma túy với H và T1.
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Công an phường V, tỉnh Quảng Ninh kiểm tra phòng nghỉ giữa ca của Công ty TNHH M1. Thời điểm kiểm tra có H, T1, B, V1, H2 đang ở trong phòng, phát hiện và thu giữ trong túi áo phía trước ngực bên trái H đang mặc 01 túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; thu trong phòng 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và 02 bật lửa ga. Tổ công tác tiến hành lập biên bản kiểm tra, ngoài ra thu giữ các mẫu nước tiểu, các điện thoại di động cùng sim trong máy và triệu tập các đối tượng về trụ sở Công an tỉnh Quảng Ninh làm việc.
Kết luận giám định số 1996/KL-KTHS và 1997/KL-KTHS cùng ngày 25/12/2025, của Phòng K Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể trắng trong túi nilon thu giữ của Lê Minh H là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,641 gam. Chất dạng vết trong 02 ống thuỷ tinh thu giữ là ma túy loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng. Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Lê Minh H, Vũ Văn T1, Nguyễn Hải T4, Mai Văn B, Hồ Ngọc H2, Hoàng Văn V1.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Minh H, Hồ Ngọc H2, Vũ Văn T1, Hoàng Văn V1, Mai Văn B, Nguyễn Hải T4 đều khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên. Ngoài ra các bị cáo còn khai:
Bị cáo Lê Minh H khai: Về nguồn gốc số ma túy H bán cho Hồ Ngọc H2, Mai Văn B, Nguyễn Hải T4 và bị thu giữ là do H mua của một người đàn ông không quen biết với giá 4.000.000 đồng vào khoảng 15 giờ ngày 14/10/2025, tại khu vực cổng cảng C thuộc phường V, tỉnh Quảng Ninh. Số ma túy H đang cất giấu bị thu giữ mục đích để bán kiếm lời. Đối với 01 điện thoại Iphone của H bị thu giữ, H có sử dụng để đăng nhập ứng dụng ngân hàng, nhận tiền bán ma túy từ H2 và T4.
Bị cáo Hồ Ngọc H2 khai: đối với 01 điện thoại Iphone của H2 bị thu giữ, H2 có sử dụng để chuyển tiền mua ma túy cho H.
Bị cáo Nguyễn Hải T4 khai: đối với 01 điện thoại Oppo của T4 bị thu giữ, T4 có sử dụng để chuyển tiền mua ma túy cho H.
Bị cáo Mai Văn B khai: đối với bộ D1 sử dụng ma túy đá của B bị thu giữ là do B tự chế, sau đó H, H2, B, V1 đã dùng để sử dụng ma túy.
Bị cáo Vũ Văn T1 khai: đối với bộ D1 sử dụng ma túy đá của T1 bị thu giữ là do T1 tự chế, sau đó T1, H và T4 đã dùng để sử dụng ma túy.
Người làm chứng là anh Bùi Thế A có lời khai thể hiện anh Thế A được Công ty TNHH M1 giao quản lý phòng nghỉ giữa ca của công ty. Trong quá trình làm việc do Vũ Văn T1 và Mai Văn B là công nhân của công ty, đi làm xa nhà nên anh Thế A đã giao cho T1 và B quản lý phòng nghỉ. Việc các bị cáo sử dụng ma túy tại phòng nghỉ công ty A1 Thế A không biết và không tham gia cùng.
Bản Cáo trạng số: 94/CT-VKSQNH-KV1 ngày 28/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh truy tố bị cáo Lê Minh H về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; truy tố các bị cáo Hồ Ngọc H2, Vũ Văn T1, Hoàng Văn V1, Mai Văn B, Nguyễn Hải T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025,
Xử phạt bị cáo Lê Minh H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025,
Xử phạt bị cáo Mai Văn B từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc H2 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải T4 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025,
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 03 sim điện thoại trong các điện thoại của bị cáo H, H2, T4 bị thu giữ; 02 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 bật lửa ga, 01 hộp đựng kính.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu tím thu của Lê Minh H; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen thu của Hồ Ngọc H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh thu của Nguyễn Hải T4.
Tịch thu của bị cáo Lê Minh H số tiền 2.150.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Trả lại bị cáo Vũ Văn T1 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng kèm sim; trả lại bị cáo Hoàng Văn V1 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu ghi kèm sim; trả lại bị cáo Mai Văn B 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám kèm sim.
Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo Lê Minh H, Hồ Ngọc H2, Vũ Văn T1, Hoàng Văn V1, Mai Văn B, Nguyễn Hải T4 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản sự việc ngày 19/12/2025, Biên bản kiểm tra và thu giữ vật chứng ngày 19/12/2025, Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Trong các ngày 15/12/2025 và 18/12/2025 tại trạm trộn bê tông Công ty TNHH M1 thuộc khu G, phường V, tỉnh Quảng Ninh, Lê Minh H có hành vi 04 lần bán trái phép ma túy loại Methamphetamine cho Hồ Ngọc H2, Mai Văn B, Nguyễn Hải T4 với tổng số tiền là 2.300.000 đồng (thu lời 1.800.000 đồng). Ngoài ra, H còn cất giấu 1,641 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để bán.
Khoảng 19 giờ ngày 18/12/2025, cũng tại trạm trộn bê tông, H cùng Vũ Văn T1, Nguyễn Hải T4 đã có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Trong đó H khởi xướng và cung cấp ma túy; T1 góp tiền mua ma túy, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy; T4 cùng chuẩn bị dụng cụ sử dụng, đổ ma túy vào nỏ.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, cũng tại địa điểm trên, H, H2 cùng Mai Văn B, Hoàng Văn V1 có hành vi tổ chức cho nhau và cho T4, T1 sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Trong đó B cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy, H2 cung cấp ma túy, chuẩn bị chất ma túy và châm ma túy cho B, H, T4 sử dụng; H cung cấp ma túy và mời T4, V1 sử dụng; V1 chuẩn bị chất ma túy và châm ma túy cho H, B, H2 sử dụng.
Hành vi của bị cáo Lê Minh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Hành vi của các bị cáo Hồ Ngọc H2, Vũ Văn T1, Hoàng Văn V1, Mai Văn B, Nguyễn Hải T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Về tính chất, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo không những gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn tiếp tay cho những đối tượng buôn bán ma túy khác và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm xã hội khác.
Các bị cáo đều là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy đối với xã hội cũng như đối với sức khỏe của bản thân tuy nhiên vì ham chơi, đua đòi, thích hưởng thụ đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy nhằm mục đích thỏa mãn ham muốn của bản thân.
Bị cáo Lê Minh H có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử nhiều lần về tội phạm liên quan đến ma túy, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy tuy nhiên vì lợi nhuận mà bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời.
Các bị cáo Vũ Văn T1, Nguyễn Hải T4 có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính và xét xử nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Văn T1 có bố đẻ là ông Vũ Xuân C được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Các bị cáo Lê Minh H, Hồ Ngọc H2, Vũ Văn T1, Hoàng Văn V1, Mai Văn B, Nguyễn Hải T4 phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó: Bị cáo Lê Minh H nhiều lần bán trái phép ma túy cho các bị cáo khác và 02 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong ngày 18/12/2025. Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào khoảng 19 giờ ngày 18/12/2025, bị cáo là người khởi xướng và cung cấp ma túy; đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào khoảng 22 giờ ngày 18/12/2025, bị cáo mời bị cáo T4, V1 sử dụng ma túy. Do đó bị cáo giữ vai trò đầu vụ.
Tiếp đến là các bị cáo Mai Văn B và Hồ Ngọc H2, đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào khoảng 22 giờ ngày 18/12/2025, các bị cáo đều là người khởi xướng việc sử dụng ma túy, cung cấp ma túy, tạo điều kiện cho các bị cáo khác sử dụng ma túy. Do đó bị cáo B và H2 giữ vai trò sau bị cáo H.
Các bị cáo Vũ Văn T1, Nguyễn Hải T4, Hoàng Văn V1 đều sử dụng ma túy và giúp sức, tạo điều kiện cho các bị cáo khác sử dụng ma túy. Do đó bị cáo T1, T4 và V1 giữ vai trò sau bị cáo B và H2.
Về mức hình phạt:
Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh tại phiên tòa về áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Tòa án.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải xử lý nghiêm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét thấy các bị cáo trước khi phạm tội đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với 1,58 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành; 02 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa trong suốt dán nhãn “Nước khoáng thiên nhiên Quang Hanh”, nắp chai màu xanh được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu hồng – xanh, một lỗ gắn ống thủy tinh có bầu); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa trong suốt dán nhãn “Nước khoáng thiên nhiên Quang Hanh”, nắp chai màu xanh được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu xanh cam, một lỗ gắn ống thủy tinh có bầu tròn); 02 bật lửa ga; 01 hộp đựng kính bằng nhựa màu đen; 03 sim điện thoại trong các điện thoại bị tịch thu sung ngân sách Nhà nước của các bị cáo Lê Minh H, Hồ Ngọc H2 và Nguyễn Hải T4 không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu tím thu của Lê Minh H; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen thu của Hồ Ngọc H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh thu của Nguyễn Hải T4, quá trình điều tra xác định có liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 1.800.000 đồng là tiền Lê Minh H bán ma túy thu được là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 350.000 đồng là tiền Vũ Văn T1 góp cho Lê Minh H để tổ chức sử dụng ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng kèm sim thu của Vũ Văn T1; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu ghi kèm sim thu của Hoàng Văn V1; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám kèm sim thu của Mai Văn B, quá trình điều tra xác định các bị cáo sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với anh Bùi Thế A, không biết việc các bị cáo sử dụng ma túy trong phòng nghỉ do mình được giao quản lý nên không đề cập xử lý.
Đối với người bán ma túy cho Lê Minh H, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Về án phí:
Các bị cáo Lê Minh H, Hồ Ngọc H2, Vũ Văn T1, Hoàng Văn V1, Nguyễn Hải T4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Mai Văn B là người cao tuổi, thuộc đối tượng được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tại phiên tòa bị cáo B có quan điểm xin được miễn án phí nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lê Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Hồ Ngọc H2, Vũ Văn T1, Hoàng Văn V1, Mai Văn B, Nguyễn Hải T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025,
Xử phạt bị cáo Lê Minh H 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025,
Xử phạt bị cáo Mai Văn B 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc H2 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải T4 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025,
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2025.
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 1,58 gam Methamphetamine; 02 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1996/KL-KTHS ngày 23/12/2025; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa trong suốt dán nhãn “Nước khoáng thiên nhiên Quang Hanh”, nắp chai màu xanh được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu hồng – xanh, một lỗ gắn ống thủy tinh có bầu); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa trong suốt dán nhãn “Nước khoáng thiên nhiên Quang Hanh”, nắp chai màu xanh được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu xanh cam, một lỗ gắn ống thủy tinh có bầu tròn); 02 bật lửa ga; 01 hộp đựng kính bằng nhựa màu đen; 03 sim điện thoại thu của các bị cáo Lê Minh H, Hồ Ngọc H2 và Nguyễn Hải T4.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu tím thu của Lê Minh H; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen thu của Hồ Ngọc H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh thu của Nguyễn Hải T4.
Tịch thu của bị cáo Lê Minh H số tiền 2.150.000đ (hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
Trả lại bị cáo Vũ Văn T1 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng kèm sim; trả lại bị cáo Hoàng Văn V1 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu ghi kèm sim; trả lại bị cáo Mai Văn B 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xám kèm sim.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 144/BB–THA/KV1 ngày 21/4/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Quảng Ninh).
- Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Lê Minh H, Hồ Ngọc H2, Vũ Văn T1, Hoàng Văn V1, Nguyễn Hải T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mai Văn B.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND khu vực 1 – Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Phòng THADS khu vực 1 - Quảng Ninh; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ninh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thu Hương |