- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 130 NGÔ NHẬT T (255) 19.6.2025 - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Ngô Nhật T 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù,…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 130/2025/HS-ST Ngày: 19/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tân
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Quang Hòa
2. Bà Thái Thục Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Viết Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2025/TLST-HS ngày 04/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2025/QĐXXST-HS ngày 02/6/2025 đối với bị cáo:
Ngô Nhật T; giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 20 tháng 02 năm 1992 tại tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định;Nơi tạm trú: số I đường Số B, Khu dân cư P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không.Con ông Ngô Văn T1 và bà Phạm Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/01/2024, tạm giam từ ngày 02/02/2024. (Bị cáo có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Bà Thi Hồng Á; sinh năm 2001; địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt)
2/ Bà Lê Kiều Trúc L; sinh năm 2006; địa chỉ: ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
3/ Bà Trần Thúy N1; sinh năm 1983; địa chỉ: B M, Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
4/ Bà Lê Thúy N2; địa chỉ: nhà số I đường số B, khu dân cư P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 26/01/2024, Công an P, Quận H tiến hành kiểm tra hành chính nhà số I đường Số B, Khu dân cư P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện trong phòng ngủ phía bên phải ở tầng 3 (hướng cầu thang đi lên) có 04 (bốn) đối tượng gồm: Ngô Nhật T, Lê Kiều Trúc L, Thị Hồng Á1 và Trần Thúy N1. Qua kiểm tra, Công an P phát hiện và thu giữ tại kệ tủ tivi 01 (một) đĩa sứ chứa chất bột màu trắng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn; 01 (một) thẻ nhựa; tại ngăn kéo bàn cạnh giường ngủ thu giữ 01 (một) gói nylon chứa tinh thể màu trắng. Ngoài ra, Công an P còn thu giữ của T: 01 (một) bản chỉnh nhạc Pioneer DJ RX3; 02 (hai) loa nghe nhạc; 01 (một) đèn lazer; 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone màu vàng, gắn sim 0965506351. Đồng thời, Công an P phối hợp với Đội điều tra tổng hợp Công an Quận 8 tiến hành khám nghiệm hiện trường, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ngô Nhật T và đưa Á1, N1, L về trụ sở Công an để làm rõ. Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu đối với Ngô Nhật T, Thị Hồng Á1, Lê Kiều Trúc L và Trần Thúy N1. Kết quả T, Á1 và Linh dương T2 với chất ma túy Ketamine, còn N1 âm tính với ma túy.
Tại Cơ quan điều tra Ngô Nhật T khai nhận:
Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/01/2024, sau khi dự tiệc sinh nhật của một người bạn tên T3 (chưa rõ lai lịch) ở quán “Sườn M", phường P, quận T thì T cùng với Á1, L, T4 và H (chưa rõ lai lịch, đều là bạn của T), hai người phụ nữ (không rõ lai lịch, bạn của T4 và H) thuê xe công nghệ (xe ô tô) đi về phòng của T ở tầng 3 phía bên phải (hướng cầu thang đi lên) của nhà số I đường Số B, Khu dân cư P, Phường F, Quận H để chơi. Khi về đến nơi, H đề nghị sử dụng ma túy và được T đồng ý, T chuẩn bị 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa và cuộn tròn tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng để sử dụng ma túy, còn H lấy ra 01 gói nylon chứa ma túy tổng hợp, bỏ ra một ít vào trong đĩa sứ rồi cùng với T, T4 và hai người phụ nữ (bạn của H và T4) cùng nhau sử dụng ma túy chung, còn Á1 và L không có tham gia sử dụng ma túy, chỉ ngồi chơi rồi đi ngủ. Sau khi sử dụng ma túy xong, số ma túy tổng hợp còn dư thì T thấy H cất giấu vào trong ngăn kéo bàn cạnh giường ngủ. Đến khoảng 05 giờ 00 phút cùng ngày, T rời khỏi phòng để đi làm (giao nước đá), T4, H và hai người phụ nữ cũng đi ra về, còn Á1 và L vẫn còn ngủ ở phòng, số ma túy mọi người sử dụng chưa hết trong bình và dụng cụ sử dụng ma túy thì T để tại kệ tủ ti vi. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày 26/01/2024, T đi làm về thì thấy trong phòng có một giàn máy nghe nhạc do L kêu một người anh mang đến để L tập đánh, lúc này Á1 và L còn đang ngủ nên T cũng đi ngủ. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T, Á1, L thức dậy và chuẩn bị ăn uống. L liên hệ Trần Thúy N1 mang đồ ăn qua phòng của T thì đến khoảng gần 18 giờ 00 phút cùng ngày, N1 mang đồ ăn đến. Cùng lúc này, lực lượng Công an P, Quận H đến kiểm tra hành chính như toàn bộ nội dung sự việc nêu trên.
T không biết nguồn gốc số ma túy trên, chỉ biết là của H, do H bỏ ma túy ra sử dụng và số ma túy còn dư lại thì T thấy H cất giấu vào trong ngăn kéo bàn cạnh giường ngủ. Đây là lần đầu tiên T sử dụng ma túy tại phòng của T.
Đồng thời, Thị Hồng Á1, Lê Kiều Trúc L và Trần Thúy N1 khai nhận như sau:
Ái, L chứng kiến toàn bộ sự việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng của T, nhưng không tham gia sử dụng ma túy, chỉ ngồi chơi rồi đi ngủ. Nguồn gốc của số ma túy mà Công an thu giữ ở trên thì Á1 và L không biết, chỉ biết số ma túy trên do H (bạn của T) bỏ ra để sử dụng. Tuy Ái và L không tham gia sử dụng ma túy lần này nhưng có sử dụng ma túy loại Ketamine của ngày trước đó khi Á1, L đến chơi ở một quán bar không rõ địa chỉ ở Quận A, do một người bạn (không rõ lai lịch) cho sử dụng.
N1 là bạn của L, ngày 26/01/2024, L nhờ mua đồ ăn qua nhà số I đường Số B, Khu dân cư P, Phường F, Quận H thì N1 đồng ý. N1 hoàn toàn không biết sự việc liên quan đến ma túy tại địa chỉ trên.
Tại Bản kết luận giám định số 1945/KL-KTHS ngày 02/02/2024, Phòng K Công an Thành phố H kết luận (Bút lục: 124):
+ Gói 1: Bột màu trắng trong 01 đĩa sứ (Ký hiệu mẫu m1). Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7310g (không phẩy bảy ba một gam), loại Ketamine.
+ Gói 2: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon (Ký hiệu mẫu m2). Tinh thể màu trắng được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,0173g (ba phẩy không một bảy ba gam), loại Ketamine.
Tại cáo trạng số 58/CT-VKS-Q8 ngày 04/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo như sau:
Bị cáo Ngô Nhật Tân bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngoài ra cáo trạng còn xác định:
Đối với các đối tượng Thị Hồng Á1, Lê Kiều Trúc L mặc dù không tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” trước đó nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã giao cho Công an P, Quận H xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài ra, đối với hành vi “Không tố giác tội phạm” của Á1 và L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định tách hành vi và ra thông báo truy tìm đối tượng để xử lý sau.
Đối tượng tên H đã mua, cung cấp ma túy tổng hợp để sử dụng và tổ chức sử dụng ma túy vào ngày 26/01/2024; đối tượng tên T4 và hai người phụ nữ đã tham gia sử dụng ma túy vào ngày 26/01/2024, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục xác minh để xử lý sau.
Đối với Trần Thúy N1 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can Ngô Nhật T và không có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý hình sự là có cơ sở.
Đối với chị Lê Thúy N2 chủ sở hữu nhà số I đường Số B, Khu dân cư P, Phường F, Quận H, chị N2 là người cho bị can T thuê căn nhà trên để ở với số tiền 28.000.000 đồng và hai bên có làm hợp đồng thuê nhà, sự việc bị can T cùng đồng phạm tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Phòng của T thì chị N2 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý hình sự là có cơ sở.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt Ngô Nhật T 09 năm đến 10 năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm 03 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 10 năm 09 tháng đến 12 năm 03 tháng tù.
Bị cáo trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng.
Quá trình tranh luận, đối đáp đại diện Viện kiểm sát cũng như bị cáo giữ nguyên quan điểm như đã nêu, không phát sinh tình tiết nào mới.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ áp dụng pháp luật:Bộ luật Hình sự áp dụng trong vụ án này là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với nguyên tắc xử lý nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu. Khoan hồng với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của những người liên quan, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình tố tụng. Trên cơ sở xem xét đánh giá công khai các chứng cứ một cách đầy đủ và toàn diện nhất, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:
Vào ngày 26/01/2024, tại nhà số I đường Số B, Khu dân cư P, Phường F, Quận H, Ngô Nhật T và đối tượng H (chưa rõ lai lịch) đã tổ chức sử dụng ma túy cho đối tượng T4 và hai người phụ nữ (không rõ lai lịch, bạn của T4 và H), T là người cung cấp địa điểm là phòng của T thuê tại nhà số I đường Số B, Khu dân cư P, Phường F, Quận H và bộ dụng cụ sử dụng ma túy, H là người cung cấp ma túy cho cả nhóm sử dụng. Sau khi tổ chức sử dụng xong, số ma túy còn lại H để lại cho T cất giữ với mục đích để sử dụng sau. Theo kết quả giám định xác định được số lượng ma túy mà H để lại cho T là 3,7483g ma túy ở thể rắn, loại Ketamine.
Hội đồng xét xử xét bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của mình mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định hành vi của các bị cáo đã phạm vào các tội như sau:
Ngô Nhật T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Do đó, cần xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu để áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Nhận định trên cũng là nhận định của Hội đồng xét xử để chấp nhận quan điểm luận tội cũng như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Đối với 01 gói niêm phong số 1945 (638)/24 Gói 1; 01 gói niêm phong số 1945 (638)/24 Gói 2, thu giữ của Ngô Nhật T, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Ngô Nhật T, điều tra viên Thái Thanh H1, hình dấu Công an P, Quận H và chữ ký Giám định viên Trần Đình H2 là ma túy còn lại sau giám định xét cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Iphone gắn sim số 0965506351, màu vàng (không kiểm tra tình trạng bên trong máy), thu giữ của bị can T, dùng để liên lạc cá nhân cho bạn bè và gia đình; 01 đèn lazer màu đen và 02 loa nghe nhạc màu đen, có ghi chữ “KPK”, dùng làm dụng cụ chiếu sáng và nghe nhạc trong phòng; 01 thẻ nhựa, dùng làm dụng cụ để sử dụng ma túy; số tiền 10.000 đồng, dùng làm dụng cụ để sử dụng ma túy, xét cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 bản chỉnh nhạc Pioneer DJ RX3 màu xanh, thu giữ của Lê Kiều Trúc L tại phòng của bị can T. Qua điều tra được biết, bản chỉnh nhạc trên do Lê Kiều Trúc L mượn của một người anh tên Nhật L1 (chưa rõ lai lịch) để tập đánh nhạc và hiện tại, L1 không còn liên lạc được với Nhật L1. Ngày 27/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng báo tìm chủ sở hữu, nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến liên hệ để giải quyết. xét cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt Ngô Nhật T 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
+ Tịch thu tiêu hủy đối với:
01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1945 (638)/24 Gói 1,bên ngoài có các chữ ký ghi tên Ngô Nhật T, Thái Thanh H1, hình dấu Công an P, Quận H và chữ ký Giám định viên Trần Đình H2.
01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 1945 (638)/24 Gói 2, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Ngô Nhật T, Thái Thanh H1, hình dấu Công an P, Quận H và chữ ký Giám định viên Trần Đình H2.
+Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone gắn sim số 0965506351, màu vàng (không kiểm tra tình trạng bên trong máy);
01 (một) đèn lazer màu đen;
02 (hai) loa nghe nhạc màu đen, có ghi chữ “KPK”;
01 (một) thẻ nhựa;
số tiền 10.000 (mười nghìn) đồng;
01 (một) bản chỉnh nhạc Pioneer DJ RX3 màu xanh;
(theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/4/2025 tại chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 24/5/2024).
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 20/06/2025. đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quận 8; - VKSND TP. HCM; - CQCSĐT CA TP. HCM; - CQTHA HS CA TP. HCM; - Phân trại tạm giam Khu vực Quận 8 - Trại tạm giam Chí Hòa; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PV06; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Tân |