- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Hồng L đối với anh Hồ Thành L1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2024/HN-ST Ngày: 19/02/2024 V/v “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung” NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tiến.
2. Bà Huỳnh Thị Bích Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hiển – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 482/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Hồng L, sinh năm 1992 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: số B ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Hồ Thành L1, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: số B ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2023, trong quá trình tố tụng và tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 08/01/2024, chị Võ Thị Hồng L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Hồ Thành L1 cưới nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/11/2014, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi cưới, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 8 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất quan điểm sống, xảy ra nhiều cự cãi. Khi xảy ra mâu thuẩn, vợ chồng chị cũng có ngồi lại để giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không thành nên đã chính thức sống ly thân từ tháng 01/2023 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng chị cũng không có tới lui để tạo cơ hội hàn gắn. Nay chị không còn tình cảm vợ chồng với anh L1 nữa và nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Hồ Thành L1.
Về con chung: Chị và anh L1 có 01 con chung tên là Hồ Thành Đ, sinh ngày 08/12/2015 hiện đang sống với chị. Nay ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Đ và tự nguyện không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa, anh Hồ Thành L1 đều vắng mặt, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến xin hàn gắn.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Hồng L đối với anh Hồ Thành L1. Về con chung: Để cháu Hồ Thành Đ, sinh ngày 08/12/2015 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Võ Thị Hồng L vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; anh Hồ Thành L1 đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L1, chị L.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị Hồng L và anh Hồ Thành L1 là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị L và anh L1 sống hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 8 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, xảy ra nhiều cự cãi. Khi xảy ra mâu thuẫn, chị L và anh L1 cũng có ngồi lại giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không được nên đã sống ly thân từ tháng 01/2023 đến nay. Trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị L vẫn xác định tình cảm vợ chồng không còn với anh L1 nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Mặt khác, anh L1 biết được chị Lê x ly hôn với anh nhưng anh vẫn không gửi văn bản thể hiện ý kiến hàn gắn đến Tòa án. Qua đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh L1 là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh L1 là có căn cứ phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Cháu Hồ Thành Đ, sinh ngày 08/12/2015; Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị L và anh L1 sống ly thân đến nay, cháu Đ vẫn do chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, trong quá trình tố tụng cũng như đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu nuôi cháu Đ. Mặt khác, tại biên bản lấy ý kiến ngày 05/01/2024 của Tòa án, cháu Đ cũng có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải để cháu Đ cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật hôn nhân gia đình. Chị Lê tự n không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), chị Võ Thị Hồng L có nghĩa vụ nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Hồng L đối với anh Hồ Thành L1.
2. Về con chung: Chị Võ Thị Hồng L có quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Thành Đ, sinh ngày 08/12/2015 (tại biên bản lấy ý kiến ngày 05/01/2024 của Tòa án, cháu Đ có nguyện vọng sống với mẹ). Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con.
Anh Hồ Thành L1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), chị Võ Thị Hồng L có nghĩa vụ phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000015 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bến Tre. Án phí, chị L đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho chị Võ Thị Hồng L, anh Hồ Thành L1 biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã A; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Chí Vũ |