vanban.org

Bản án 13/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 10/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 04/10/2022. Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1685/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; Trả bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––
Bản án số: 13 /2023/HSST
Ngày 10-01-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Minh Ngà.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Chiến và bà Lê Thị Thanh Thủy;

Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Lã Hải Long - Kiểm sát viên sơ cấp.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 210/2022/TLST – HS ngày 02 tháng 12 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2022/QĐXXST- HS ngày 26/12/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thanh T. Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 12/9/1997, tại huyện N, tỉnh Hải Dương;

Nơi thường trú: khu L, thị trấn N, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương; nơi ở: xóm T, thôn Đ, xã D, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ học vấn: lớp 9/12. Họ tên bố: Lê Văn T; họ tên mẹ: Nguyễn Thị H. Vợ, con: không. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/10/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn B; sinh năm: 1964; nơi cư trú: xóm Kh, thôn T, xã D, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Anh Hoàng Tiến M; sinh năm: 1978; nơi cư trú: xóm G, thôn Đ, xã D, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 45 phút ngày 04/10/2022, tại khu vực xóm T, thôn Đ, xã D, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Công an xã D phối hợp với Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Cẩm Phả, bắt quả tang Lê Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Thu giữ của T: trong túi áo khoác bên phải của T đang mặc 01 túi nilon kích thước (3,3x3,6)cm, chứa chất tinh thể màu trắng, 01 điện thoại di động Samsung vỏ màu xanh, lắp sim số 0866.474.816.

Tại bản kết luận giám định số 1685/KLGĐ ngày 10/10/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Lê Thanh T là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,219 gam.(BL 28)

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh T khai nhận: bị cáo đến xã Dương Duy làm việc thuê cho Công ty Tâm Thành từ năm 2020, bị cáo sử dụng ma túy đá từ năm 2021, thường sử dụng ma túy sau khi uống rượu. Tối ngày 04/10/2022, sau khi uống rượu cùng bạn, bị cáo có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã ra khu vực cầu T, thôn Đc, xã D, tìm mua ma túy để sử dụng, bị cáo đã gặp một người đàn ông không quen biết, bị cáo hỏi mua ma túy, thì được người đàn ông này nói có loại ma túy mới và cho bị cáo một ít để dùng thử, bị cáo đã được người đàn ong này đưa cho 01 túi nilon ma túy đá. Bị cáo để gói ma túy vào túi áo khoác và đi tìm chỗ sử dụng thì bị Công an bắt quả tang.

Người chứng kiến là ông Nguyễn Văn B, anh Hoàng Tiến M, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều có lời khai thể hiện nội dung: khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 04 tháng 10 năm 2022, tại khu vực xóm T, thôn Đ xã D, thành phố Cẩm Phả, ông B và anh M chứng kiến công an kiểm tra đối với Lê Thanh T, chứng kiến công an thu trong túi áo khoác đang mặc của T 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng T khai là ma túy đá, T mang theo để sử dụng, ngoài ra còn thu giữ của T 01 điện thoại Samsung vỏ màu xanh.

Tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ngoài kết luận giám định ma túy, các biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn B, anh Hoàng Tiến M là người chứng kiến, còn có các tài liệu khác: biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục 32); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (bút lục 33, 35); biên bản kiểm tra điện thoại thu giữ của bị cáo (bút lục 34); bản ảnh vật chứng (bút lục 36, 37); sơ đồ vị trí nơi bị cáo mua ma túy (bút lục 45), các tài liệu này đều có nội dung phù hợp lời khai của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 212/CT-VKS-CP ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa kiểm sát viên trình bày luận tội bị cáo với đề nghị kết tội bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 04/10/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; ngoài ra có quan điểm xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh T khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến, phù hợp tài liệu có trong hồ sơ vụ án: kết luận giám định ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng.

Trên cơ sở các chứng cứ trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 45 phút ngày 04/10/2022, tại xóm Tài Phèng, thôn Đá Bạc, xã D, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Lê Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,219 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang.

Hành vi này của bị cáo Lê Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tội danh có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Cáo trạng truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện làm cho người sử dụng phải lệ thuộc vào nó, ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng và là nguồn phát sinh tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Pháp luật Nhà nước ta xử lý nghiêm khắc đối với các tội về ma tuý, mục đích để ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy trong xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma tuý đối với người sử dụng và biết được sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vì lối sống không có trách nhiệm với bản thân với xã hội, bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương, gây mất trật tự, trị an xã hội. Vì vậy cần xử lý cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về vật chứng: số mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc điện thoại Samsung, màu xanh, thu giữ của bị cáo, nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với người theo Lê Thanh T khai, đã cho T ma túy, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không đủ căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 04/10/2022.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1685/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; Trả bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng, kèm 01sim.

(Hiện trạng toàn bộ vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 69 /BB-THA ngày 23/12/2022 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Lê Thanh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

- Tòa án nhân dân tỉnh QN;

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Viện kiểm sát nhân dân TP.Cẩm Phả

- CQ CSĐT Công an TP.Cẩm Phả,

- CQ THA hình sự Công an TP.Cẩm Phả,

- Trại tạm giam Công an TP.Cẩm Phả

- Chi cục thi hành án dân sự TP.Cẩm Phả;

- Bị cáo,

- Lưu hồ sơ, lưu văn phòng.

\

Đặng Thị Minh Ngà

Thành phần Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hồng Thái – Nguyễn Thị Hiền

Đặng Thị Minh Ngà Các thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Thị Minh Ngà

Cỡ chữ